Thiên Hạ Kỳ Duyên - Quyển III: Thân Thế - Ánh Tuyết Triều Dương

Đúng như tên gọi, trong Quyển III của Thiên hạ kỳ duyên, thân thế của các nhân vật sẽ từ từ được hé lộ. Có những người tưởng chừng chỉ lướt qua nhau, nhưng hóa ra số mệnh đã định sẵn cho họ một duyên kiếp oan nghiệt. Cũng có những người, đến khi biết mình là ai thì đã vĩnh viễn chẳng thể quay đầu...

Chương 52. Họa âm

Đêm nay không có trăng. Cỏ cây trầm mặc rũ mình giữa bóng tối tịch mịch. Tiếng bước chân của cung nhân đi tuần đêm mỗi lúc một vọng xa dần. Còn bên trong Lãm Nguyệt cư, đèn nến vẫn chưa tắt.

Nguyễn Nhã Liên chủ tâm che giấu một phế phi phạm trọng tội, việc này vốn dĩ đã cực kì mạo hiểm. Khi đến Đan Ngọc các và không thấy người đâu, Nguyễn Nhã Liên lại càng khó xử hơn, bởi nếu hoàng thượng niệm tình không truy cứu tội kháng chỉ, nàng ta cũng mắc vào tội không bảo vệ người chu toàn. Vô hình chung, nàng ta đã vướng vào cuộn chỉ rối do chính mình tạo ra, lùi không được mà gỡ cũng chẳng xong. Có những lúc nghĩ lại, Nguyễn Nhã Liên thấy mình sao mà dại dột quá, yên lành chẳng thích lại cứ thích xen vào chuyện rắc rối không phải của mình.

Nhưng nếu đã là nguyện ý, đến chết cũng khó buông tay…

Tư Thành nâng cằm Nguyễn Nhã Liên lên, để cho gương mặt xinh đẹp và thuần nhã ấy đối diện thẳng với mình. Đây là lần đầu tiên Nguyễn Nhã Liên chạm sát mặt Tư Thành đến thế. Tuy biết rõ cung quy không cho phép tùy tiện đối mặt với thiên tử nhưng Nguyễn Nhã Liên không hề né tránh, hoặc cũng có thể, nàng ta vốn không định né tránh.

“Nguyễn dung hoa, nàng có dám nhìn thẳng vào mắt trẫm và nói rằng mình không có tâm tư gì khác khi che giấu Phùng tài nhân không?”

Che giấu tội phi là chuyện tày trời. Nguyễn Nhã Liên lại từng bị Phùng Diệm Quỳnh đối xử tệ bạc. Về tình về lý, không có lý do gì để nàng ta mạo hiểm cứu kẻ thù, trừ khi…

Nguyễn Nhã Liên hiểu Tư Thành đang nghĩ gì. Nàng ta buồn bã thở dài:

“Bệ hạ cho rằng thần thiếp muốn giết mẹ đoạt con?”

Tư Thành im lặng không đáp. Hắn không muốn nghĩ xấu cho Nguyễn Nhã Liên, nhưng lòng dạ nữ nhân hậu cung thâm sâu như biển cả, chẳng phải người con gái trước nay luôn nhu mì điềm đạm này cũng khiến hắn phải mở rộng tầm mắt đó sao?

Nguyễn Nhã Liên nói tiếp:

“Thần thiếp thừa nhận mình có tâm tư, nhưng tâm tư của thần thiếp không đặt ở chuyện tranh giành ân sủng, càng không đặt ở chỗ danh vọng sang hèn. Thần thiếp chỉ biết rằng tiểu hoàng tử là cốt nhục của bệ hạ nên dù sống dù chết, thần thiếp cũng phải bảo vệ Phùng tài nhân được chu toàn. Việc thần thiếp đã làm, người hiểu chuyện thì nói thần thiếp nhân từ, kẻ ác miệng ắt sẽ dị nghị thần thiếp có dã tâm… Sao cũng được! Thần thiếp vô dụng, không thể thỏa mãn miệng lưỡi người đời, chỉ biết sống sao cho bản thân mình được thanh thản mà thôi.” Ngừng lại một lúc, Nguyễn Nhã Liên lấy hết can đảm nhìn thẳng vào mắt Tư Thành: “Lời ngày hôm nay của thần thiếp, bệ hạ có thể tin, có thể không tin, nhưng thần thiếp từng câu từng chữ đều xuất phát từ đáy lòng.”

Mỏng manh như sợi tơ rơi giữa hồng trần nhưng lại đủ sức siết chặt trái tim ai đó. Cái cách Nguyễn Nhã Liên nói ra những lời này sao mà nhẹ nhàng quá! Và trong ánh mắt trong veo ấy, không hề tồn tại những cảm xúc, toan tính dung tục, tầm thường. Mới đây Tư Thành còn nghi ngờ Nguyễn Nhã Liên có bụng dạ khác, để rồi, chính sự thẳng thắn đến khó hiểu của Nguyễn Nhã Liên đã từng bước từng bước xóa tan hiềm nghi trong lòng hắn. 

Có kẻ nhân lúc rối ren đã đem Ngọc tiệp dư giấu trong Đan Ngọc các. Mạo hiểm cả tính mạng của mình để che chở một phế phi, nếu không phải vì người đó muốn bảo vệ cốt nhục của bệ hạ thì thần nữ thật không thể nghĩ ra một lý do nào thích hợp hơn.

Có lẽ Ngô Chi Lan nói đúng. Người đã che chở cho Phùng Diệm Quỳnh, nếu không phải có dụng tâm nào khác thì chính là toàn tâm toàn ý nghĩ cho an nguy của đứa trẻ trong bụng nàng ta. Giữa chốn thâm cung giậu đổ bìm leo, dễ gì tìm được một người sẵn sàng gạt bỏ mưu lợi của bản thân để bảo vệ huyết mạch hoàng thất?

Thế nhưng…

“Nàng có biết trẫm ghét nhất loại nữ nhân như thế nào không?”

Xưa nay Tư Thành ghét nhất hậu phi dám giở trò sau lưng mình. Cứ cho rằng Nguyễn Nhã Liên có thành ý đi, nhưng việc nàng ta dám cãi lời hắn thì thực sự rất khó chấp nhận.

Nguyễn Nhã Liên miễn cưỡng cười:

“Đương nhiên thần thiếp biết. Bệ hạ ghét nhất cung phi không an phận, dám giở trò sau lưng mình.”

Có ánh sáng vừa léo lên trong mắt Tư Thành, rất nhanh sau đó kịp biến mất.

“Rõ ràng đã biết mà vẫn cố tình phạm phải? Nguyễn dung hoa, gan nàng cũng lớn đấy nhỉ?” 

“Vì bệ hạ, tội khi quân thần thiếp cũng không sợ!”

Lại một lời nói ra, nhẹ như gió thoảng, mà cũng nặng tựa ngàn cân.

Khi ở điện Vạn Thọ, Nguyễn Nhã Liên hiểu Tư Thành không tiện lên tiếng nên mới âm thầm nhắc nhở Hoàng Lan dùng sáp nến đối phó với Thạch Bưu. Ở cung Thụy Đức, biết rõ mình bị liên lụy bởi Hạ Diệp Dương nhưng Nguyễn Nhã Liên vẫn cắn răng chịu ba mươi trượng, đó là vì nàng ta không muốn Tư Thành phải khó xử với thái hậu. Phùng Thục Giang ốm nặng không ai quan tâm, chỉ có Nguyễn Nhã Liên vẫn kiên trì đến Vĩnh Hà điện, mượn danh Tư Thành chăm sóc Phùng Thục Giang để thiên hạ khỏi chê trách đế vương bạc bẽo vô tình. Ngày hôm nay, Nguyễn Nhã Liên biết phạm phải tội chết nhưng vẫn che chở Phùng Diệm Quỳnh, âu cũng vì lo lắng đứa trẻ trong bụng nàng ta…

Ai nói Nguyễn Nhã Liên không có tâm tư? Trong hậu cung này, chỉ sợ tâm tư của Lê Tuyên Kiều cũng chẳng bằng được Nguyễn Nhã Liên. May mắn thay, tâm tư ấy, nàng ta đã đặt trọn vào Lê Tư Thành!

“Nguyễn dung hoa, nàng…” 

Tư Thành không biết phải nói sao cho phải. Người con gái trước mặt khiến hắn cảm thấy nghi ngờ chính bản thân mình.

“Bệ hạ không cần phải nghĩ nhiều như vậy đâu.” Nguyễn Nhã Liên mỉm cười lắc đầu: “Khi thần thiếp yêu một người, bản thân thần thiếp có thể nhẫn nại, càng không sợ vì người đó mà bị hiểu lầm. Thần thiếp không có được phúc phận như Nguyễn sung nghi được bệ hạ hết lòng yêu thương che chở, chỉ xin bệ hạ đừng chối bỏ sự tồn tại của thần thiếp, để thần thiếp đứng bên cạnh người, vì người mà chia sẻ sầu lo, được như thế, thần thiếp đã mãn nguyện lắm rồi…”

Tư Thành càng nhìn kĩ Nguyễn Nhã Liên hơn. Xưa nay, ấn tượng của hắn dành cho vị Nguyễn dung hoa này không quá sâu đậm. Hắn ưng ý Nguyễn Nhã Liên chỉ vì nàng ta đoan trang hiền thục, không ưa thói xa hoa màu mè, nhưng hắn cũng không thể phủ nhận rằng nữ nhân như vậy đôi khi rất nhàm chán. Và hắn đã nhầm. Nguyễn Nhã Liên không hề nhàm chán như vẻ bề ngoài, ngược lại, khí chất thanh cao cùng tâm tư thiện lương, tinh tế của nàng ta khiến hắn thực sự muốn trân trọng.

Ngoài kia, cây lộc thưa uể oải trút cơn mưa hoa xuống khoảng sân tối sẫm. 

Một lúc sau, Tư Thành đích thân đến nâng Nguyễn Nhã Liên dậy. Không giống lần trước, lần này Nguyễn Nhã Liên đột ngột muốn né tránh, nhưng tránh đâu cũng không thoát khỏi bàn tay của Tư Thành.

“Xin bệ hạ đừng làm thế. Thần thiếp hèn mọn, nhận không nổi ân điển này đâu.”

“Những việc nàng làm còn tính là hèn mọn sao?”

Nguyễn Nhã Liên cúi đầu im lặng. Tư Thành mỉm cười trầm ấm rồi tiện tay dìu nàng ta trở lại ghế ngồi.

“Đố kị là bản tính của nữ nhân, chỉ có Hoàng Lan và nàng trước giờ chưa từng khiến trẫm thất vọng. Nguyễn dung hoa, trẫm có được phi tử như nàng, là phúc của hậu cung.”

Rất nhiều năm sau đó, Tư Thành mới chiêm nghiệm được một sự thật, rằng hắn có được Nguyễn Nhã Liên thực sự là phúc của hậu cung…

“Ngọc tiệp dư trước khi chết đã nhờ cậy Hoàng Lan chăm sóc tiểu hoàng tử, nhưng giờ chính nàng ấy sống chết còn chưa rõ, Nguyễn dung hoa, trước khi Hoàng Lan trở về, trẫm muốn nàng thay nàng ấy gánh vác trọng trách này.”

Tư Thành chậm rãi nói tiếp. Thánh ý vừa buông, Nguyễn Nhã Liên sợ hãi lùi lại một bước:

“Bệ hạ, thần thiếp sao có thể?”

“Chỉ cần có lòng có tâm, không sợ bản thân không thể chu toàn. Nguyễn dung hoa, trẫm tin nàng.”

Trẫm tin nàng. 

Nguyễn Nhã Liên cứ đứng ngây ra nhìn Tư Thành. Ánh mắt bình thản đã nhòa lệ vì cảm kích, và cũng chẳng biết sau đó bao lâu, khi cánh hoa cuối cùng chao nghiêng trong gió, ánh hừng đông cuối trời bừng sáng, Nguyễn Nhã Liên mới cúi đầu ưng thuận.

Ngọc tiệp dư yểu mệnh, Nguyễn sung nghi mất tích, hoàng thượng thương tiểu hoàng tử côi cút nên đã đưa đến Lãm Nguyệt cư cho Nguyễn dung hoa tạm thời nuôi dưỡng. Cùng ngày hôm ấy, ý chỉ ban xuống, dung hoa Nguyễn thị được sắc phong thành tiệp dư đứng đầu lục chức, còn đặc biệt ban cho phong hiệu là Liên, ngụ ý khen ngợi Nguyễn dung hoa thanh khiết và cao quý như hoa sen, cũng vừa khéo rất hợp với tên của nàng ta, khiến hậu cung lại được một phen ghen tị đỏ mắt.

Hậu cung, Lương Túy sảnh.

Tẩm điện của Lương Túy sảnh không xa hoa như cung Thọ Am của Lê Tuyên Kiều nhưng cách bài trí đồ đạc lại vô cùng tao nhã và đẹp mắt. Góc trái kê một bàn trà gỗ gụ, trên bàn còn bày xếp ra một bộ chén trà làm từ ngọc Đông Quan. Góc phải là nơi đặt thư án, cổ cầm, lư hương, thứ nào thứ nấy đều là vật phẩm thượng hạng. Trên chiếc trường kỷ phủ đệm gấm màu bạch ngọc, Trịnh Minh Nguyệt đang cần mẫn thêu một bức hình hoa cúc. Thêu thùa đòi hỏi tĩnh tâm và kiên trì, đối với người trong lòng đang nổi sóng như Trịnh Minh Nguyệt, công việc này có vẻ không được phù hợp lắm.

Sáng nay, nàng ta chủ động tìm đến điện Bảo Quang để xin nhận tiểu hoàng tử làm con thừa tự thì mới biết Tư Thành đã giao đứa trẻ cho Nguyễn Nhã Liên. Thậm chí hắn còn nói một câu khiến Trịnh Minh Nguyệt xám mặt:

“Nàng còn trẻ, chẳng lẽ sợ mình phúc mỏng hay sao mà đã vội vã nhận con thừa tự?”

Quách Liễu ngồi một bên cố lựa lời trấn an Trịnh Minh Nguyệt:

“Đằng nào thì chuyện cũng đã rồi. Cô có tức giận thì cứ nói ra đi. Cô cứ im lặng như thế, ta… ta sợ lắm!”

“Có tức giận cũng không nhất thiết phải biểu hiện ra bên ngoài. Nếu đến chút việc nhỏ cũng không thể nhẫn nhịn thì sao có thể hoàn thành đại sự?” Trịnh Minh Nguyệt khinh thường chỉnh lời Quách Liễu. Đoạn, nàng ta đặt bức thêu sang một bên rồi quay sang hỏi Hải Yến: “Ngươi đã đem lễ vật đến Lãm Nguyệt cư chưa?”

Hải Yến ngập ngừng:

“Theo lời lệnh bà, con đã đem lễ vật đến chúc mừng nhưng… nhưng Liên tiệp dư nói chỉ nhận tâm ý của lệnh bà, còn tất cả tặng phẩm đều đã gửi trả lại rồi ạ.”

Với cá tính của Nguyễn Nhã Liên, những món đồ nịnh nọt đưa đến, nàng ta không nhận mới là bình thường.

“Co phong hiệu thì đã sao? Cô ta chỉ là một tiệp dư nhỏ bé, cô dù sao cũng là tu nghi đứng thứ ba trong cửu tần, vậy mà cô ta dám không nể mặt!” Quách Liễu được thể nguýt dài.

Trong hậu cung, địa vị của Trịnh Minh Nguyệt chỉ xếp sau Lê Tuyên Kiều và Hạ Diệp Dương. Trịnh Minh Nguyệt hài lòng nâng chén trà lên, chầm chậm gạt miệng chén rồi khoan hòa uống một ngụm:

“Nể mặt cũng được, không nể mặt cũng không sao. Giờ người ta đã có tiểu hoàng tử trong tay, kiêu ngạo một chút cũng là chuyện bình thường.”

Quách Liễu bĩu môi dè bỉu:

“Ta thực sự không hiểu. Luận về cả địa vị lẫn tài đức, nếu muốn tìm một người để chăm sóc hoàng tử của Ngọc tiệp dư, lẽ ra bệ hạ phải chọn Tuệ chiêu nghi hoặc cô mới đúng, đằng này lại…”

“Tâm ý của bệ hạ, khi nào đến lượt chúng ta đoán định?” Trịnh Minh Nguyệt nhớ đến dáng vẻ lúc nào cũng khiêm tốn rụt rè của Nguyễn Nhã Liên mà bất giác rùng mình: “Ta sai lầm rồi nên mới coi nhẹ Nguyễn Nhã Liên. Cứ tưởng sau Phùng Diệm Quỳnh và Nguyễn Hoàng Lan, Lê Tuyên Kiều mới là cái gai cần trừ bỏ nhất, ai ngờ lại quên mất một kẻ lúc nào cũng tỏ vẻ vô hại trong Lãm Nguyệt cư. Không biết Nguyễn Nhã Liên đã dùng cách gì để chiếm được thánh tâm của bệ hạ, nhưng lần này, cô ta thực sự đã khiến chúng ta phải mở rộng tầm mắt rồi.”

Cách mà Nguyễn Nhã Liên đổi lấy lòng tin của Tư Thành, chỉ e cả đời này Trịnh Minh Nguyệt cũng không thể hiểu nổi.

Quách Liễu thì hậm hực ra mặt. Trước giờ nàng ta luôn coi thường Nguyễn Nhã Liên, cho rằng đối phương là kẻ nhu nhược kém cỏi, nào ngờ Nguyễn sung nghi vừa mất tích, Nguyễn Nhã Liên liền được hoàng thượng tin tưởng giao tiểu hoàng tử vào tay, thậm chí, vị Tuệ chiêu nghi vẫn ngồi chễm chệ trong cung Thọ Am kia cũng không thể can thiệp vào.

“Mà cô không thấy lạ sao? Nghe nói Ngọc tiệp dư vì khó sinh mà chết.” Quách Liễu chợt nhớ ra một chuyện quan trọng: “Nhưng vị Ngọc tiệp dư này là ai nhỉ? Bệ hạ sủng hạnh người này từ lúc nào vậy?”

Quách Liễu đang nghi ngờ thân phận của Ngọc tiệp dư. Nhưng vốn đang phiền lòng về chuyện Nguyễn Nhã Liên được nuôi dưỡng tiểu hoàng tử, Trịnh Minh Nguyệt chỉ coi những lời này như gió thoảng bên tai.

“Trên đời này làm gì có Ngọc tiệp dư nào!” 

Trong khi đó, ở bên cung Thọ Am, Lê Tuyên Kiều lại kiên nhẫn xoa dịu cơn tức của Hạ Diệp Dương. Tuy Lê Tuyên Kiều chỉ coi Hạ Diệp Dương là quân cờ nắm trong tay nhưng dù sao đối phương cũng là mỹ nhân đệ nhất hậu cung, phân vị lại chỉ xếp dưới Lê Tuyên Kiều đúng một bậc nên Lê Tuyên Kièu không dám lộ ý lợi dụng ra mặt, đôi khi còn phải nịnh nọt lấy lòng nàng ta.

“Có thể hạ sinh tiểu hoàng tử vào thời điểm này, lại liên quan đến chữ Ngọc, còn ai nữa ngoài vị Phùng Huệ phi ngu xuẩn ngày đó?”

Ngọc tiệp dư… Đan Ngọc các… dù đã nửa tin nửa ngờ nhưng lời nói như đinh đóng cột của Lê Tuyên Kiều vẫn khiến Hạ Diệp Dương kinh ngạc. Nàng ta bật dậy, lắp bắp kinh hãi:

“Nhưng người đó đã sợ tội tự sát trong lãnh cung rồi mà?”

Lê Tuyên Kiều đủng đỉnh lắc đầu:

“Trong chốn thâm cung thật giả lẫn lộn, có cái gì là không thể ngụy tạo? Sự sống chết của một người, suy cho cùng đều sẽ bị định đoạt bởi lời nói của kẻ có quyền thế cao hơn mà thôi.”

“Thì ra đó là lí do bệ hạ cải danh cô ta thành Ngọc tiệp dư.”

Hạ Diệp Dương bất mãn siết chặt tay lại. Trước kia Lê Tuyên Kiều sắp đặt Hạ Diệp Dương bên người Phùng Diệm Quỳnh, Hạ Diệp Dương từng bị đối phương ghen tị với nhan sắc hơn người mà nhiều lần gây khó dễ, thậm chí còn dùng khổ nhục kế để vu cáo nàng ta. Ngày Phùng Diệm Quỳnh bị phế, trong cung người nào vui sướng ăn mừng thì không rõ, nhưng trong số đó chắc chắn không thể thiếu Hạ Diệp Dương. Ai ngờ niềm vui không thể trọn vẹn. Phùng Diệm Quỳnh tránh không khỏi số chết, nhưng trước khi chết đã kịp để lại trên đời huyết mạch cao quý…

Lê Tuyên Kiều nghe Hạ Diệp Dương nói vậy thì không khỏi bật cười:

“Theo cô nghĩ, chuyện xảy ra trong cung Thụy Đức, Phùng Huệ phi oan ức được mấy phần? Cứ cho rằng đứa bé trong bụng cô ta chưa rõ sống chết thì việc cô ta rắp tâm hại cô, cấu kết với sứ thần Đại Minh đều không thể chối cãi. Dù muốn hay không, danh tiếng của Phùng Huệ phi đã bị hủy hoại hoàn toàn rồi. Người như thế xứng đáng làm mẫu phi của hoàng tử hay sao?” Lê Tuyên Kiều tự hỏi rồi lại lắc đầu: “Cho dù bệ hạ có niệm tình xưa, có muốn nhắc tới mẫu tử tình thâm thì người cũng phải nghĩ cho tiền đồ của hoàng tử trưởng trước. Dù sao, đối với một đứa trẻ lớn lên hoàng thất, có mẫu thân là một vị Ngọc tiệp dư bí ẩn còn tốt hơn so với việc có mẫu thân là một phế phi gấp hàng ngàn hàng vạn lần. Mà thôi, quan trọng hoàng tử là cốt nhục của bệ hạ chứ không phải mẫu thân của nó là ai. Cô đừng tùy tiện nghị luận về điều này nữa. Để người khác nghe được là tội chém đầu đấy.”

Hạ Diệp Dương tuy bất mãn nhưng chung quy vẫn biết cân nhắc thiệt hơn, liền cố nén lửa giận trong lòng rồi cùng Lê Tuyên Kiều chuyển sang bàn luận cầm nghệ. Trò chuyện đến nửa ngày, nàng ta mới nhận ra sự vắng mặt của Thanh Ngọc, hỏi ra mới biết nhà Thanh Ngọc có chuyện, Lê Tuyên Kiều đã đặc biệt cho phép nàng ta xuất cung về thăm quê mấy ngày.

Ngửa mặt nhìn những tán cây vàng úa, kẻ hữu tâm khó tránh khỏi suy nghĩ vẩn vơ. Ngọc tiệp dư vừa sinh hạ hoàng tử đã mất mạng, Nguyễn sung nghi rơi xuống sông chưa rõ sống chết, hoàng thượng đột nhiên tin tưởng Liên tiệp dư, càng không bận tâm chuyện địa vị cao thấp mà giao hoàng tử cho Lãm Nguyệt cư nuôi dưỡng. Chúng phi tần được một phen bàn ra tán vào, dấy lên không biết bao lời đồn đại, nhưng thánh ý khó đổi, Nguyễn Nhã Liên lại chẳng màng thị phi, cuối cùng lời đồn như lửa giữa đêm đông, cháy hoài rồi cũng tắt.

Cùng lúc ấy, ở một ngôi nhà tranh cách kinh thành không xa.

Lê Khải Triều ngồi xổm trước bếp củi, đang phồng mồm trợn má thổi cho lửa cháy trở lại. Nhưng mặc cho Lê Khải Triều cố gắng thế nào đi nữa, mấy cây củi như thách thức sự kiên nhẫn của hắn, mãi chẳng chịu cháy, có cây còn bùng lên như trêu ngươi rồi tịt hẳn.

Hóa ra để làm được mấy việc “tầm thường” này lại cần bản lĩnh đến vậy…

Vừa thấp thỏm trông chừng nồi cháo, Lê Khải Triều vừa lèm bèm chửi rủa. Để người ngoài biết đệ nhất thần trộm Đại Việt phải ngồi ở xó này nhóm bếp nấu cháo, hắn thà rút kiếm tự sát cho đỡ nhục!

Đánh vật một hồi cuối cùng cũng xong, Lê Khải Triều lễ mễ bưng bát cháo trứng nóng hổi vào buồng trong, nơi có một người con gái áo lục đang nằm ngoảnh mặt về phía cửa sổ. Đặt bát cháo xuống bàn, hắn hắng giọng tỉnh queo:

“Ta biết thừa cô đang giả vờ ngủ. Thế nào? Có dậy ăn không? Hay để ta đổ đi cho chó?”

Biết không thể qua mặt được cái tên oan gia trời đánh này, Thanh Ngọc xùy một tiếng rồi nhổm dậy. Nàng ta miễn cưỡng đón lấy bát cháo nhưng không vội ăn mà đặt nó sang bên cạnh rồi buồn bực hỏi Lê Khải Triều:

“Khi nào ngươi mới chịu thả ta ra?”

Mấy ngày trước, Thanh Ngọc bị nhiễm lạnh ngất đi, Lê Khải Triều bất đắc dĩ đưa nàng ta về đây. Hắn chăm sóc cho nàng ta khỏi ốm thật, nhưng hắn cũng sợ nàng ta giở trò hay chạy trốn nên đã xích chân lại, không cho rời khỏi giường nửa bước.

Hai mươi năm sống trên đời, Thái Thanh Ngọc chưa bao giờ bị đối xử nhục nhã như thế!

“Hỏi nhiều làm gì!” Lê Khải Triều nạt: “Loại con gái như cô, bớt đi một ít, thiên hạ cũng đỡ loạn.”

Thanh Ngọc xị mặt xuống:

“Không cho người ta nói thì thôi. Có nhất thiết phải xúc phạm nhau như vậy không?”

“Thấy ấm ức rồi à?” Lê Khải Triều tỉnh queo đáp: “Thanh Ngọc cô nương à, em trai ta rơi xuống sông chưa rõ sống chết mà ta còn phải ở đây nấu cháo cho cô, ta chưa ấm ức, cô ấm ức cái nỗi gì! Còn ngồi đó mà nói này nói nọ, có tin chiều ta cho cô nhịn luôn không?”

Tuy mồm miệng của Lê Khải Triều vẫn ác nghiệt như thế, nhưng sao Thanh Ngọc lại thấy giống như hắn đang kể công hơn là muốn dọa dẫm nàng ta nhỉ?

Lại nói đến kể công, từ ngày đưa Thanh Ngọc về đây, tuy Lê Khải Triều giam giữ nàng ta thật nhưng ngoại trừ thi thoảng nói đểu vài ba câu, hắn đối với nàng ta cũng coi như tận tình. Chườm khăn hạ sốt, sắc thuốc, nấu cháo… mọi việc đều là do hắn làm, đến mức mới đầu Thanh Ngọc còn không dám tin tên trộm ác mồm này biết chăm sóc người ốm.

Có điều tay nghề nấu ăn của hắn vẫn dở tệ, điển hình là món cháo, lúc đặc lúc loãng, nói chung rất khó nuốt.

Hai tay nâng bát cháo, Thanh Ngọc ngán ngẩm nhìn vào thứ nước loang loảng vàng vàng bên trong, cơ hồ còn ngửi thấy mùi khen khét, mãi sau mới lấy hết can đảm ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào mắt Lê Khải Triều:

“Nói câu này đừng giận nhé!”

“Hả?”

“Lần sau không cần vất vả như thế đâu. Ra chợ mua cái gì ăn tạm cũng được.”

Xung quanh chỉ còn bóng tối trải dài vô cùng vô tận, không có khái niệm về không gian thời gian, thậm chí không có sự phân định giữa sống và chết. Người con gái ấy không biết mình đang ở đâu. Mọi thứ xung quanh nàng… tất cả đều mơ hồ và lẫn lộn.

Bầu trời Đông Kinh sao mà xa quá…

Quên thiếp đi nhé, Tư Thành…

Quên thiếp đi nhé, Tư Thành…

Một âm thanh quen thuộc dội đến từ cõi hư không. Tư Thành choàng tỉnh sau một giấc mộng dài.

Đã sắp sang canh hai. Ngọn nến trên giá khẽ lung lay như thể cố vớt vát những giọt sáng cuối cùng trước khi lụi tàn. Kể từ ngày Hoàng Lan mất tích dưới lòng sông Nhị Hà, mọi thứ trong mắt hắn đều trở nên cô độc và lạnh lẽo.

Cửa điện hé mở. Tư Thành ra lệnh cho Đặng Phúc không cần đi theo. Đêm nay, thứ hắn cần chính là sự yên tĩnh.

Ánh sao mờ mờ trải khắp nhân gian. Trước mặt hắn, bóng nước loang loáng như ánh bạc.

Và rồi, dưới một tòa viện xa xôi nào đó vang lên tiếng sáo trúc trầm tư. Tiếng sáo réo rắt rót lên từng nhành cây bụi cỏ, nhuộm đẫm cả lối nhỏ dẫn tới vườn quỳnh, lúc mượt mà, khi da diết, mỏng manh tựa khói sương, cảm giác như chỉ cần chạm nhẹ là bay, thổi nhẹ là tan biến. Tưởng chừng tiếng sáo sắp phá vỡ trời đêm tịch mịch, nào ngờ bóng tối càng lúc càng trầm lắng, giống như bạn đốt một ngọn nến giữa đêm đông thì phía sau lưng bạn, chính là giá rét tột cùng.

Tư Thành đã ngồi ở đây Liên đài rất lâu rồi, lâu đến mức vai áo hắn đã ướt đẫm sương đêm.

Nhớ đến người con gái đó, trong lòng hắn lại cảm thấy trống vắng không gì khuất lấp nổi. Hoàng Lan ở cạnh Tư Thành chưa lâu, thậm chí nếu đem so với kẻ khác, nàng chỉ như một cơn gió thoáng qua cuộc đời hắn. Nhưng có những lúc, gặp gỡ vốn là định mệnh, và có những người, tưởng như chỉ thoáng qua nhau nhưng cũng đủ khắc sâu vào trái tim nhau đến trọn đời.

Từ bây giờ, sẽ chẳng còn ai đủ tư cách lắng nghe tiếng sáo của hắn nữa.

Rồi động tác của Tư Thành hơi ngừng lại. Hắn nheo nheo mắt, lắng nghe một thanh âm khác cũng đang lặng lẽ vang lên.

Là tiếng độc huyền cầm!

Khi còn ở vương phủ, Tư Thành đã được nghe các nghệ nhân chơi độc huyền cầm hàng trăm lần, nhưng đây là lần đầu tiên hắn được thưởng thức một tiếng đàn thú vị đến vậy. Không rõ tiếng đàn ấy từ đâu vọng tới, cũng không rõ người đang tấu lên tự khúc đó là ai, chỉ biết tiếng đàn kia vạn phần ảo diệu, từng nhịp từng khúc đều không ngừng biến hóa, lúc như cách chim lao đang vút lên đỉnh núi cao ngàn trượng, có khi lại như sóng thác đổ xuống muôn tầng vực sâu. Tưởng nhanh mà chậm, tưởng trầm mà cao, tiếng đàn ấy không tuân theo bất kì quy luật nào, cứ tùy theo tâm trạng mà thoải mái biến tấu, tàng ẩn trong đó là cá tính kiêu bạc ngạo nghễ của người chơi đàn, đủ khiến kẻ có bản lĩnh nhất cũng phải xấu hổ cúi đầu.

Người này…

Tâm tư giao hòa, Tư Thành điềm nhiên nâng cây sáo trúc lên. Hình như tiếng đàn của người kia cũng chững lại trong giây lát, nhưng rất nhanh sau đó đã bắt nhịp được với tiếng sáo, thậm chí sự kiêu bạc, ngạo nghễ càng lúc càng mãnh liệt hơn. Cảm giác lạc lõng biến mất. Ở nơi hậu đình xa xôi, hai người họ thậm chí còn không biết đối phương là ai, chỉ có đàn sáo không hẹn mà cùng hợp tấu.

Ngón tay của Vĩnh Lạc quận chúa lướt nhẹ trên sợi dây đàn, động tác mềm mại và thuần thục đến mê hồn. Tiếng độc huyền cầm cứ thế vang lên, mỗi giờ mỗi khắc lại thêm ảo diệu, mang theo cả sự kiêu hãnh, ngạo nghễ của kẻ tấu đàn. Cũng khó trách Vĩnh Lạc. Xưa nay, kẻ được nghe tiếng đàn của nàng ta chỉ có mình Lưu Tích Nguyên, nhưng hắn lại vô vị và nhàm chán đến mức chẳng bao giờ nhớ nổi tên của bất cứ khúc nhạc nào, khi cao hứng thì mới nhận xét vài ba câu nhạt thếch. Đây là lần đầu tiên có người đáp lại tiếng đàn của Vĩnh Lạc quận chúa, mà không chỉ đáp lại, hình như hắn còn rất hiểu tâm đàn. Nếu nhạc điệu của đàn bầu biến ảo bất định thì hắn lại dùng tiếng sáo vừa ngọt ngào vừa trầm lắng để dẫn dắt, dung hòa. Mỗi khi nàng ta tấu lên những khúc ngang tàng, tiếng sáo kia chắn chắn sẽ cao hơn một bậc, tuy tha thiết nhưng không ủy mị, điềm nhiên trói buộc tiếng đàn trong một ngưỡng bậc vô hình. Hai người khởi đầu với hai giai điệu khác nhau, vậy mà chẳng biết tự bao giờ lại cùng trầm cùng bổng, cùng chậm cùng nhanh, giống như hai dòng sông cùng đổ về biển lớn. Một người phóng khoáng, một kẻ trầm uy, thoạt nghe còn tưởng thủy hỏa bất dung, nào ngờ khi cùng nhau hợp tấu mới biết thì ra trên đời này, không gì là không thể.

Vĩnh Lạc quận chúa đặt cây đàn sang một bên rồi khoan khoái đứng dậy. Nàng ta thích thú nhìn về phía xa, nơi tiếng sáo của ai đó cũng vừa trầm xuống, mắt hạnh xinh đẹp không nén nổi ý cười. Chẳng lẽ hậu cung này thực sự đã xuất hiện kẻ xứng đáng trở thành tri kỉ của nàng ta?

Chỉ là Vĩnh Lạc không hề biết, căn cơ của tai họa cũng từ thứ gọi là tri kỉ ấy mà thành.

“Bệ hạ…”

Tiếng độc huyền cầm dừng chưa được bao lâu thì Nguyễn Nhã Liên xách đèn lồng đi đến. Trên tay nàng ta còn cầm một thứ gì đó, hình như là một hộp đồ ăn. Thông thường cửa các cung đều đóng trước giờ tí, nhưng luôn có những phi tần được hưởng một số đặc quyền nho nhỏ, không bị quản chế giờ giấc nghiêm ngặt như những người khác.

“Nàng cũng ngồi xuống đi.”

Tư Thành chỉ vào chiếc ghế còn trống bên cạnh. Nguyễn Nhã Liên hầu lệnh, khiêm nhường cùng ngồi xuống.

“Muộn thế này mà nàng vẫn đi tìm trẫm?” 

Tư Thành nhìn hộp đồ ăn Nguyễn Nhã Liên mang theo, chẳng khó để đoán ra lý do đối phương đến tìm mình. Nhưng hôm nay hắn tản bộ một mình, thậm chí đám người Đặng Phúc cũng không được đi theo cho nên rất ít người biết để tìm đến đây.

Nguyễn Nhã Liên ôn tồn đáp:

“Thần thiếp không cố công tìm bệ hạ. Là thần thiếp nghĩ đến nơi này ngay từ đầu.”

 Tư Thành ngưng thần nhìn nàng ta.

“Liên đài là nơi bệ hạ lần đầu gặp Nguyễn sung nghi. Trông cảnh nhớ người là thói quen của đấng quân tử đa tình.”

Nguyễn Nhã Liên nhẹ nhàng cười, ánh mắt toát lên vẻ hiền dịu như hồ nước mùa thu. Lần trước Lê Tuyên Kiều “đón lõng” Tư Thành ở Liên đài cũng vì suy luận này, nhưng nàng ta không như Nguyễn Nhã Liên, dám thẳng thắn nói ra suy nghĩ trong lòng mình.

Tư Thành cười nhạt:

“Liên tiệp dư, nàng dám dò xét trẫm?” 

Nguyễn Nhã Liên hoảng sợ quỳ xuống:

“Bệ hạ thứ tội. Thần thiếp không dám! Chẳng qua đêm đông sương lạnh, thần thiếp sợ bệ hạ tổn thương long thể nên mới có ý nghĩ quá phận thôi.”

Tư Thành không căn vặn thêm nữa. Bất kể Nguyễn Nhã Liên nói gì, vẻ mặt của nàng ta đều thành thật đến mức khiến người đối diện không thể nghi ngờ.

Chỉ có Nguyễn Nhã Liên mới hiểu những lời này là thật hay giả. Nàng ta vẫn nhớ như in cảnh tượng ấy, hoàng thượng một mình đứng giữa liên đài, ánh mắt xao xuyến rơi trên mặt hồ phẳng lặng, chẳng hề quan tâm những đóa hoa sen đã tàn tự lúc nào. Dù Tư Thành lúc nào cũng tỏ vẻ lạnh lùng thanh thản, nhưng Nguyễn Nhã Liên đủ tinh ý để nhận ra mất mát trong mắt hắn…

Đó là chuyện của nửa năm trước, khi Nguyễn sung nghi để lại một lá thư rồi bỏ đi.

“Bệ hạ…”

Tư Thành giơ tay lên, kịp thời ngăn Nguyễn Nhã Liên lại:

“Trẫm biết nàng định nói gì. Việc của Nguyễn sung nghi, tự trẫm sẽ thông suốt.”

Nguyễn Nhã Liên vâng dạ gật đầu. Đoạn, nàng ta đưa chiếc hộp kia cho hắn rồi nói:

“Canh này tuy hơi đắng nhưng an thần rất tốt, lát trở về bệ hạ nên uống một chút. Bệ hạ là vua một nước, dù bận rộn chính sự thì cũng cần phải nghỉ ngơi, đừng nên lao lực quá độ.”

Nguyễn Nhã Liên đang nói đến những hôm hắn thức trắng đêm phê duyệt tấu chương trong điện Bảo Quang hay những lần hắn đem về cả tá kinh văn, sách địa lý về nghiên cứu. Lời vừa dứt, ánh mắt vạn phần phức tạp của Tư Thành vô tình trói buộc Nguyễn Nhã Liên, khiến nàng ta chộn rộn trong lòng, cuối cùng ngượng ngùng quay mặt đi.

“Vẫn là nàng chu đáo nhất.” Tư Thành chợt cười rồi đón lấy hộp canh: “Được, canh này về nhất định trẫm sẽ uống.”

Trò chuyện thêm một lúc, Nguyễn Nhã Liên sợ đêm sương giá lạnh, nhất quyết giục Tư Thành hồi cung. Mỹ nhân hiền dịu quan tâm, Tư Thành tất nhiên không miễn cưỡng, thậm chí còn tiễn biệt nàng ta đến tận ngoài cửa Lãm Nguyệt cư rồi mới trở về.

Nguyễn Nhã Liên dạo gần đây khiến hắn rất an lòng.