Nam Quốc Hậu Phi - Lan Chỉ Tiểu Truyện

Sáng tác: Minh Bảo a.k.a Mingbao Chan

Thể loại: truyện ngắn cảm hứng lịch sử.

Bổi cảnh: nhà Nguyễn, triều vua Khải Định.

Nhân vật chính: Nhất giai Ân Phi Hồ Thị Chỉ (tên trong truyện: Hồ Lan Chỉ) .

VĂN ÁN

Con tim yêu một người, mà vận mệnh lại trớ trêu gắn chặt vào một người khác, rốt cuộc là tang thương đến độ nào?

Áo gấm trâm vàng, môi tô mắt vẽ, quyền hành trong tay nghiêng ngửa một góc trời. Từ bỏ cuộc đời mình, đánh đổi mỗi thứ chỉ để sở nguyện được thành toàn, đến cuối cùng bản thân chỉ còn là lớp vỏ bọc vô hồn không hơn không kém.

Biết trách ai đây? Là trách người phụ tình ý mặn nồng, trách lời hứa nơi đầu môi chót lưỡi hay trách vận mệnh đã quá trớ trêu?

Nước mắt nuốt ngược vào trong, khóc không thành tiếng. Lầm lỗi là do chính bản thân mình, cuộc đời lẽ ra vô cùng tươi đẹp lại vì sự tin tưởng mù quáng vào lời hứa mông lung mà tan thành tro bụi.

Bản thân không có quyền hối tiếc. Bởi lẽ chuyện gì cũng có cái giá của nói cả thôi!

Nam Quốc Hậu Phi - Lan Chỉ Tiểu Truyện

PHẦN SƠ

Những tia nắng sớm nhàn nhạt như có như không xuyên qua khung cửa sổ sơn son đỏ thẫm đi vào trong tẩm cung. Rèm châu lấp lánh nhuộm màu nắng trở nên trong veo, mờ hồ toả ra chút ánh sáng lung linh. Mặt trời đã lên cao, Đại Nội thoát khỏi gam màu ảm đạm u tịch, trở nên rực rõ bởi màu ngói lưu ly biêng biếc xanh dưới nắng trời.

Gian phía Đông điện Trinh Minh hãy còn im ắng. Hình như vị phi tử chưởng quản nơi đây hãy còn chưa thức giấc. Cung nhân tiến hành lau dọn quét tước trong sự yên lặng, sợ rằng tiếng nói cười huyên náo sẽ quấy rối mộng  đẹp của chủ nhân.

Hồ Lan Chỉ trên người còn phủ chiếc chăn gấm thêu hoa văn chữ Phúc, mơ màng tỉnh dậy sau giấc mộng dài. Cô khẽ khàng ngồi dậy, một tay vuốt mái tóc ẩm ướt vì mồ hôi, trong lòng vẫn chưa hết thảng thốt, sự trống rỗng đến lạnh lẽo vẫn choáng lấy những nghĩ suy. Cô cất giọng thều thào, khẽ hỏi: “Thuý Loan, bây giờ đã là canh mấy rồi?”

Người cung nữ tên Thuý Loan nhanh tay chèn một chiếc gối mềm thêu kim tuyến sau lưng của Lan Chỉ, lễ phép thưa: “Bẩm lệnh bà, hiện tại đã là giờ Mão.”

“Giờ Mão rồi sao?” Cô có hơi lo lắng, mồ hôi vẫn còn rịn ra trên vầng tráng ướt đẫm. Hôm nay lại thức dậy muộn như thế, lại còn trang điểm, vấn tóc thay cung trang, e là sẽ trễ giờ vấn an hai vị Đức bà. “Sao em lại không đánh thức ta chứ?”

Thuý Loan mỉm cười trấn an cô: “Từ sáng sớm Diên Thọ cung đã sai người đến, nói rằng hôm nay hai vị Đức bà không được khoẻ, phi tần các cung được miễn lệ thỉnh an. Lệnh bà, người không cần lo lắng.”

Lan Chỉ thở phào, ngón tay hồng nhuận day day huyệt Thái Dương. Không phải thỉnh an quả là tốt quá. Đêm qua lại mơ thấy tình cảnh ấy, tỉnh lại tâm trạng hoàn toàn không thanh tỉnh, không khéo trước mặt người trên kẻ dưới trong cung lại xảy ra sơ suất, sợ rằng phong thái Đệ Nhất giai phi cao cao tại thượng bản thân khổ công xây dựng sẽ trở thành đề tài đàm tiếu của phi tần các cung.

Chậu rửa mặt và khăn lụa mềm ngâm qua nước ấm Thuý Loan đã bê đến bên cạnh. Cảm giấc mềm mại ấm áp, ngào ngạt hương hoa hồng lan toả trên gương mặt. Sắc diện có phần tươi tắn hơn, nhưng thần trí quả thật khó có thể thanh tỉnh trở lại.

Giấc mơ đêm qua dù không phải ác mộng, nhưng so với ác mộng lại còn đáng sợ hơn trăm nghìn lần.

Chợ An Cựu đông vui tấp nập, người mua kẻ bán, tiếng rao hoà lẫn câu hò tạo nên một âm sắc rộn ràng vốn có của cuộc sống dân dã thường nhật. Hai vị tiểu thư nhà họ Hồ mặc thường phục lẻn ra phố. Hồ Lan Chỉ tay cắp nia bánh sóng bước bên cô em gái nhỏ Hồ Lan Hạnh, nụ cười trong trẻo như đoá hoa phượng vĩ đang rực rỡ nhuộm xứ Huế màu sắc đỏ chói chang. Thấy Lan Hạnh mải miết nhìn nia bánh, ánh mắt lộ rõ sự thòm thèm, Lan Chỉ cố tình đội nia bánh lên đầu, lườm mắt trêu em gái.

“Không được động đến đâu đấy. Mẻ bánh này chị vất vả lắm mới học làm được. Hôm nay mang ra chợ bán xem có bằng bánh của các o các mệ ở chợ không?”

Lan Hạnh nũng nịu: “Bánh chị làm là ngon nhất. Chị làm gì cũng giỏi hết. Cho em thử một miếng đi, chỉ một miếng thôi.”

Lan Chỉ vẫn kiên quyết không chiều ý em gái. Mẻ bánh này chỉ có mười cái, người ăn mạnh miệng sẽ hết ngay, cho Lan Hạnh ăn rồi thì ai sẽ mua bánh của cô đây.

Nắng đã lên cao, người đi chợ cũng đã thưa bớt, hai chị em nhà họ Hồ chọn một góc nhỏ gần bụi trúc ven đường mà ngồi nghỉ chân. Đột nhiên trước mặt xuất hiện một cậu thiếu niên trạc tuổi cô, gương mặt mỉm cười vô cùng tuấn tú. Cậu ta lặng người một lúc lâu, ánh mắt không hề rời khỏi bụi trúc nơi hai chị em đang đứng. Sau đó, như chợt bừng tỉnh từ giấc mộng, cậu cười nói: “Cô gì đó ơi, tôi muốn mua bánh.”

Tiểu thư họ Hồ cười tươi như hoa, giở lớp vải mùng trên nia, nhanh tay xếp từng cái bánh vào đĩa, nước mắm màu vàng óng như mật cho vào bát nhỏ, nhanh tay mời vị khách nhỏ.

Bánh làm từ sớm, qua vài canh giờ cũng không còn ấm nóng, nhưng màu bột chuyển sang trong veo, thấy cả con tôm đỏ gạch nằm giữa lớp bột. Khách ăn ngon lành, nước chấm cũng húp soạt soạt không sót lại một giọt, ăn xong lại quẹt miệng, “hà” một tiếng rõ to.

“Cô bán bánh ơi, bánh cô làm thật ngon quá!” Vị khách trẻ cười cười, đôi mày đậm dãn ra đầy khoan khoái.

Cô chủ nhỏ mừng như nhặt được vàng. “Có thật không?”

“Thật. Tôi gạt cô làm gì?”

“Vậy cậu cho tôi xin tiền bánh nhé!”

“Bao nhiêu?”

“Tất cả mười hai hào.”

Vị khách nhỏ lúng túng, vốc hết túi vải mang bên người cũng chỉ vỏn vẹn mười hào. Mặt cậu đỏ ửng, vô cùng bối rối. Bàn tay cuống quýt, ngại ngùng vò vạt áo ngữ thân màu lam thẫm đến nhàu nhĩ.

Lan Chỉ thở dài cảm thông cho cậu ta, bèn tươi cười nói: “Thôi mười hào cũng được, xem như tôi chỉ lấy tiền vốn thôi. Vì anh khen bánh ngon nên tôi tính rẻ cho anh.”

Cậu bé ngại ngùng, nhưng vẻ mặt vẫn điềm đạm. “Sao có thể như vậy được? Hay là xem như tôi nợ cô nhé, tôi nhất định sẽ trả cho cô.”

Lan Hạnh không bằng lòng, kéo kéo tay áo của chị mà nói: “Chị à, anh ta nói như thế nhưng chắc gì sẽ trả. Đừng tin anh ta. Cùng lắm chỉ là khách qua đường, đâu thể có cơ hội gặp lại chứ?”

Lan Chỉ xoa đầu em gái, vừa xếp bát đũa vào nia thật gọn gàng vừa nói:”Lan Hạnh. Hai hào thật không đáng để chúng ta làm khó làm dễ anh ấy.”

Lan Hạnh lại phụng phịu hờn dỗi. Cậu bé hông biết thế nào, chỉ biết tha thiết nhìn Lan Chỉ: “Tôi nợ cô, nhất định sẽ trả. Tôi nhất định sẽ tìm gặp cô cho bằng được. Mong cô hãy tin tôi.”

Lan Chỉ trong lòng có chút buồn cười. Chỉ có hai hào, không đáng là bao, vị thiếu niên này lại nghiêm túc quá. Nhưng, những cha có dạy, những người nghiêm túc thường rất đáng tin. Nhìn anh ta ăn ngon lành như vậy, thật sự cũng muốn gặp lại để xem lần tới tài nghệ của mình đến đâu.

“Thôi được rồi, tôi tin anh.” Cô mỉm cười nhìn cậu bé trạc tuổi lại cao hơn mình nửa cái đầu. “Nhưng anh tìm tôi bằng cách nào đây?”

Cậu bé ấy, không hiểu sao lại khiến cô vô cùng tin tưởng. Cho dù sau này người đó có nói thế nào, cô cũng vẫn tin tưởng, vẫn cam tâm mà chấp nhận.

Cậu trai tằng hắng giọng, gương mặt thiếu niên đỏ ửng, chẳng biết vì nắng hay vì ngượng. “Cô bán bánh tên gì, nhà ở nơi nào để sau này tôi còn tìm gặp?”

Ánh mắt ngập tràn ý cười xán lạn, Lan Chỉ nói: “Tôi họ Hồ, tên Lan Chỉ. Phủ nhà tôi…”

Lời còn chưa dứt đã bị cắt ngang: “Phủ nhà? Cha cô làm quan ư? Có phải là quan Hồ Thượng thư của Bộ Lễ?”

Lan Hạnh hóng chuyện, tròn xoe mắt ngạc nhiên: “Anh biết cha em ư?”

“Biết.” Cậu thiếu niên gật đầu, ánh mắt tràn ngập tia kiên định.

Sau đó, người thiếu niên vội cái biệt mà rời đi. Khi thân người vận áo xanh khuất dần theo rặng trúc xanh mơn mởn trải dài hai bên con đường đất. Bước chân đã khuất xa vậy mà bên tai vẫn vẳng nghe lời ai đó đã nói: “Chúng ta có duyên, nhất định sẽ gặp lại.”

Cô cũng lẩm bẩm trong miệng hai tiếng “có duyên”.

Vì cuộc đời này, có những lần tương phùng là do duyên số sắp đặt. Cái được gọi là duyên đấy, con người ta không hề biết trước, nhưng vẫn trông mong vào sự tồn tại vô hình của nó. Giống như bèo nước gặp nhau, trong vô tình có hữu ý. Cái gọi là duyên ấy, là ở ý trời mà cũng là ở tại lòng người vậy.

Hệt như một giấc mơ.

Gương thuỷ tinh được tấm nhiễu điều đỏ rực ôm trọn, hoạ lại dung nhan của một trang quốc sắc thiên hương. Hồ Lan Chỉ ngồi trước tấm gương, soi bóng mình qua làn kính, bản thân cũng thật sự không tin người trong gương ấy chính là bản thân mình. Đã lâu, cô không còn chú ý đến hình ảnh của mình nữa. Trâm cài lược giắt như vậy, châu ngọc đầy người như vậy, có ai là không lộng lẫy bao giờ? Phấn nụ bôi lên gương mặt láng mịn như lụa quý, mày vẽ tựa nét xuân sơn, làn môi đỏ như cánh đào bích trong gió xuân se lạnh. Tư dung tuyệt mỹ như vậy lại tạo cho bản thân cảm thấy không chân thực, giống như mang một chiếc mạt nạ tinh xảo, cảm xúc gì cũng bị che giấu phía sau, vui buồn không để lộ.

Hôm nay cô chọn áo gấm hồng thêu hình hoa thược dược xoè nở, trông vô cùng rực rỡ bắt mắt. Dẫu là thường phục thì cũng phải xứng với phân vị Đệ Nhất giai Ân Phi. Mái tóc đen huyền búi cao sau đầu, cài lên cây trâm phượng bằng vàng tinh xảo, lạ điểm xuyết thêm mấy đoá hoa bằng ngọc, tưởng như chỉ cần chút nắng nhạt thì cũng có thể lấp lánh tựa áng mây lành trên bầu trời xanh thẳm.

Ngón tay nghẹ nhành rẽ lại đường ngôi cho thật ngay ngắn, lúc ấy cung nữ cũng kính cẩn thưa: “Bẩm lệnh bà. Bệ hạ giá đáo.”

“Thưa với Bệ hạ chờ bản cung ngoài điện một lát.”

Xe rồng đã đến nơi, cô vẫn ung dung không vội, chậm rãi cất từng hộp phấn son vào ngăn tủ. Tẩm cung tĩnh mịch như tờ, vẳng nghe tiếng trâm vàng khẽ đâm xuyên qua nhiễu điều đỏ thẫm, uất hận âm thầm.

“Không biết ngài giá đáo, chẳng kịp chuẩn bị nghênh đó từ xa, quả thật thất lễ quá.” Cô mỉm cười đoan trang, nhún gối hành lễ: “Bệ hạ phúc thọ miên trường.”

“Ân Phi miễn lễ.” Một tay phất lên ra hiệu, tay còn lại vẫn mân mê tách trà bằng sứ cực phẩm. Hương trà ngự dụng thưởng hạng toả khắp gian điện, thơm một thứ mùi vương giả. Làn khói mờ mờ từ tách trà bốc lên, mơ hồ che đi gương mặt.

Khải Định nở một nụ cười nhạt, ánh mắt đong đưa lên xuống nhìn Hồ Lan Chỉ: “Lộng lẫy như thế này, thật không hổ danh là Đệ Nhất giai phi của trẫm.”

Lan Chỉ khẽ cười, không hề có ý định tạ ơn lời khen ngợi đó. Dẫu sao đi nữa, cô cũng đang giúp Khải Định thành toàn ý đồ của hắn, chẳng có lý do gì để bản thân phải cuối đầu trước hắn. Lệnh cho cung nhân rời khỏi nội điện, ánh mắt lúc này chuyển thành tia sắc lẹm: “Chẳng hay ngài đại giá quang lâm rốt cuộc là có việc chi?”

Tiếng cười sang sảng mà cao vút, Khải Định kề sát gương mặt bên cô, giọng nói thều thào đầy ma mị:  “Chẳng lẽ, trẫm không có quyền đến thăm ái phi của trẫm sao?”

“Ái phi?” Một ngụm trà nhả vội vào trong chung, gương mặt cô mười phần ra vẻ xem thường, là xem thường câu đùa cợt của hắn. “Ái phi của ngài không phải ở Tây Trinh Minh điện sao? Chỉ cách chỗ của bản cung chưa tới trăm bước chân, cớ sao xe rồng có thể nhầm đường như vậy?”

“Cô nói Huệ Tần đó ư?” Thân người vận triều phục thêu đoá hồng nhung đỏ rực bắt đầy hướng về gian phía Tây. Ánh nắng từ phía Đông rọi xuống gian phía Tây điện Trinh Minh như thiêu như đốt, chiếm đi hết mọi phong quang của gian điện phía Tây. Cùng là Trinh Minh điện nhưng Tây điện cung nhân chỉ lác đác vài người, hoàn toàn không đông đúc khoa trương như Đông điện.

Lan Chỉ khẽ gật đầu, khoé môi tô son hồng nhuận khẽ cong lên để làm hàm răng trắng bóng kiểu Tây Dương, kiêu sa hệt như đoá thược dược hồng thêu trên thân áo. “Dù gì cô ta cũng là người có Hoàng tử. Ngài đưa tôi vào cung, bảo tôi lấy lòng Dương Hoàng Thái phi mẹ ruột của ngài, lại cho tôi phân vị Đệ Nhất giai phi, nhưng cũng không có gì đảm bảo cho tôi có thể áp chế cô ta lâu dài.”

Bấy giờ đang là cuối xuân, mai vàng trong cung đã tàn đi ít nhiều, cung nhân Ngự uyển được lệnh dọn những chậu mai đi nơi khác. Cây đã biến mất, để lại những cánh mai vàng rơi lả tả trên nền rêu phong cổ kính. Đại Nội này cũng đã hơn trăm tuổi,  thịnh suy của tiền triều, ấm lạnh của hậu cung, hết thảy đều in dấu. Cung vàng điện ngọc lại càng thêm vẻ trầm mặc, như thể thấu hết mọi tâm tư của những cuộc đời chôn giấu bên trong đấy, cũng là buồn một nỗi buồn của duyên kiếp sầu bi.

Thân là nữ nhân chốn hậu cung, muốn đứng vững như kiềng ba chân ấy thì cũng phải có trong tay ba thế lực. Thứ nhất, là có được hoàng ân bao la. Một phi tần được xem là phong quang vô hạn chỉ khi có được sủng hạnh từ đế vương, sự yêu thích của Thái phi Thái hậu và cả sự xem trọng của các bậc vương tôn. Thứ hai, chính là có được thế lực nhà mẹ đẻ lớn mạnh, đủ sức chống đỡ mọi biến cố của hậu cung. Cho dù không có được sủng hạnh từ đế vương đi nữa, chỉ cần nhà mẹ đẻ có quyền có thế, được tiền triều xem trọng thì địa vị chốn hậu cung nhất định sẽ được củng cố vài phần, có khi vì lẽ đó mà phân vị cũng vượt trên người khác. Nhưng chân kiềng thứ ba lại là thứ quyết định cho vận mệnh về sau của phận hồng nhan nơi cung cấm, Hoàng tử.

“Huệ Tần tuy có công hạ sinh được Hoàng tử Vĩnh Thuỵ nhưng cô ta vốn xuất thân thấp kém, không được người khác coi trọng. Chuyện mỗi tháng ta lui tới Tây Trinh Minh điện vài lần cũng không thể tính là sủng ái. Vả lại, cô ta lại bị chính Mẫu phi trẫm vì nghi kị và không giao nuôi dưỡng Vĩnh Thuỵ. Cô không thấy rằng từ nhỏ Vĩnh Thuỵ đã lớn lên tại Diên Thọ cung đó sao?” Ánh mắt Khải Định hướng về cô, vô cùng điềm tĩnh. “Ân Phi hãy yên trí, mọi chuyện đều nằm trong dự liệu của trẫm.”

Lan Chỉ nghi hoặc nhìn vị hoàng đế trước mặt. Một lời này hắn thốt ra, thật sự không hề giống bản tính bất cần của hắn. Thật không ngờ, ông hoàng An Nam bù nhìn mà người Pháp sắp đặt cũng có lúc nghiêm túc đến vậy.

Khải Định hiểu cô nghĩ gì, thần thái lại giảo hoạt quỷ dị như cũ, liền cất giọng cao vút mà nói: “Cô không cần nghi ngờ những gì trẫm suy tính.”

“Suy tính mấy cũng chỉ vì người nào đó thôi.” Chung trà trong tay cô nguội lạnh từ lâu, hương thơm cũng sớm bốc đi hơi, để lại một thứ mùi bị mơ hồ như có như không. Nhạt, nhạt nhưng chính tâm tình lúc này.

Hắn lại nở nụ cười yêu dị, khoé môi đỏ như tô son cong lên: “Còn cô, có nhớ bản thân là vì thứ gì, vì thứ gì lại bất chấp mà liên thủ với trẫm?”

Lan Chỉ vuốt ve chiếc khắn tay trắng muốt thêu đôi uyên ương tung tăng trên sóng biếc, bàn tay bất giác siết chặt, như thể đem đôi uyên ương tụ về một chỗ, mãi không chia lìa. “Tôi và ngài đều như nhau cả thôi, đồng hội đồng thuyền.”

“Cô hiểu rõ thì thật tốt quá.” Hắn khẽ nói, gương mặt bị bóng của ô cửa che đi nửa phần, tâm tư cũng bị che khuất. “Ta đã hứa sẽ không bạc đãi cô mà.”

“Hứa ư?” Cô nhoẻn miệng cười. Trên búi tóc, chim phượng bằng vàng ngậm dải tua ngọc đong đưa vô cùng sống động.

Cô mãi mãi không tin vào lời hứa, vì có những lời hứa khiến người ta khắc cốt ghi tâm, nhưng lại hệt như cơn gió xuân thổi qua vậy, khiến lòng người khoan khoái nhưng lại nhanh chóng theo cánh én lượn đi, chẳng bao giờ giữ nổi.

Năm xưa cũng không phải chưa từng hứa hẹn bao giờ.

Làn gió ào ào thổi qua rặng phi lao, mang theo hương vị mặn nồng của biển hoà với hương thơm của tùng bách. Sóng biển vỗ rì rào trên bờ cát trắng phẳng lì. Tít ngoài xa, mặt biển với bầu trời đều thuần một sắc xanh trong vắt, tựa như hoà lẫn vào nhau,  khiến người ta không khỏi thảng thốt rằng kia có đúng là “sơn cùng thuỷ tận”.

Mùa hè năm đó thiếu đế Duy Tân đi tránh nóng ở hành cung Thừa Lương, Quảng Trị. Mấy vị phụ chính đại thần cũng được lệnh đi theo phò giá, trong đó có cả gia quyến của Học bộ Thượng thư Hồ Đắc Trung.

Thừa Lương nằm ngay tại Cửa Tùng*, nơi trời nước gặp nhau, phong cảnh hữu tình rất mực. Hồ Thượng thư lo lắng không yên, sợ rằng bốn đứa trẻ nhà ông sẽ gây phiền hà cho vị thiếu đế, liền căn dặn các con phải giữ phép tắc quân thần, không được đến gần đức vua.

(*)Biển Cửa Tùng thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Với bãi biển đẹp, cát trắng, phẳng mịn, biển Cửa Tùng được mệnh danh là “nữ hoàng của những bãi tắm”. Nơi đây còn gần các địa danh lịch sử như Vĩ tuyến 17, Cầu Hiền Lương, sông Bến Hải, Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn… Vào thời kỳ Pháp thuộc, Cửa Tùng đã từng được chọn là điểm nghỉ ngơi cuối tuần của người Pháp. Cho đến nay, biển Cửa Tùng vẫn còn ngôi nhà nghỉ mát mà nhà vua Duy Tân đời Nguyễn từng ngự mang tên nhà Thừa Lương Cửa Tùng.

Hồ Đắc Điềm và Hồ Đắc Di cũng đã mười lăm, mười sáu tuổi, trở thành những trang nam tử hiểu biết lễ nghĩa, Hồ Thượng thư chỉ lo hai vị thiên kim tuổi hãy còn nhỏ, tính tình hiếu động sẽ khiến họ Hồ phạm tội khi quân. Lan Chỉ và Lan Hạnh không dám cãi lời, mỗi buổi chiều chỉ biết buồn bã nhìn hai anh cùng cha theo hầu vua dạo biển, thèm muốn cảm giác chân trần chạm mặt nước xanh.

Trời vừa hửng sáng, vầng dương tựa như quả cầu lửa khổng lồ nhô lên khỏi mặt biển. Mây hồng phía chân trời nhuộm cho màu nước xanh một sắc tím mơ màng. Đó đây nhạn biển cất cánh chao nghiêng, lượn quanh những tàu cá phía xa xa. Cảnh tượng nên thơ hệt như một bức thuỷ mặc.

Hai vị thiên kim nhà họ Hồ rón rén ra khỏi Thừa Lương, chạy như bay về phía đầu sóng, bước chân rất khẽ như sợ đánh thức Hồ Thượng thư thì lỡ mất cuộc vui.

Những con sóng sáng sớm còn mượn chút hơi tàn của gió đêm trở nên dũng mãnh đến lạ. Cát trắng ở bờ bị sóng vỗ cho vỡ tan, khi trồi khi sụt. Lan Chỉ sa chân vào một hố cát, nhất thời nhấc chân không kịp, liền bị con sóng xô bờ đánh vào ngả quỵ. Lan Hạnh chỉ biết í ới gọi chị, gấu quần may bằng lãnh đen bị nước biển làm ướt sũng.

Khoé mắt còn cay bởi nước biển mặn chát, chưa thể nhận biết được cảnh vật xung quanh, bên tai đã nghe thấy giọng nói vừa quen vừa lạ: “Lần đầu đi biển đúng không? Sau này gặp sóng cả phải tránh, nhớ.”

Chờ khi mi mắt có thể hé mở, mắt trời đã lên cao, chiếu rọi khắp vùng biển một thứ ánh sáng ấm áp, dịu dàng. Người thiếu niên độ mười bốn mười lăm tuổi ấy đang cùng cô ngồi trên bãi cát, hai tay thoải mái chống ở phía sau đỡ lấy dáng người thư sinh nho nhã. Khoé miệng người ấy còn vương lấy nụ cười rạng ngời như nắng sớm.

Cô nhận ra người ấy, người ta còn nợ cô hai hào!

Cô cũng nhận ra, người này không ai khác chính là thiếu đế Duy Tân!

“Hai hào đây. Hôm nay gặp lại, trả cho em. Lúc nào rảnh rỗi lại làm bánh nữa nhé.”

Cô ngơ ngác nhìn vị vua trẻ, cả người run run, kéo tay Lan Hạnh quỳ xuống hạnh lễ: “Lan Chỉ ngu dốt, lúc ấy không biết mặt rồng, có phần thất lễ, mong Bệ hạ tha tội khi quân!”

“Thôi nào, thôi nào.” Duy Tân kéo tay cô đứng dậy, nét mặt tựa mây lành sáng sớm, hết sức ôn hoà: “Đừng câu nệ lễ tiết như vậy.”

Lan Hạnh cuối đầu thay chị đáp lời: “Nhưng cha có dặn, phải biết giữ lễ quân thần, tuyệt đối không được mạo phạm thánh giá.”

Lan Chỉ gật đầu. Duy Tân chỉ biết cười khì: “Hồ Thượng thư lúc nào chẳng cứng nhắc như thế. Hai em đừng sợ, anh đây cũng là đồng trang lứa với hai em cả thôi.”

Hai má Lan Chỉ lúc này bị nắng ấm làm cho ửng đỏ, chẳng dán nhìn Duy Tân, chỉ khẩn thiết nói: “Bệ hạ. Xưng hô như thế thật không phải, thần nữ nào dám.”

Lan Chỉ cúi dập đầu xuống bãi cát, nước biển từng đợt từng đợt tràn về nhuộm cho mái tóc một hương thơm nồng nàn vị biển. Mắt vẫn nhắm chặt, lòng bàn tay cảm nhận thứ gì đó lành lạnh, bên tai vẳng nghe giọng nói trầm ấm lạ thường: “Giữa chúng ta không nên câu nệ lễ tiết.”

Người đã rời đi, hai hào kia dúi vào tay cô bất giác lại trở nên ấm đượm. Vì nắng ấm dạt dào như thế, hay vì ai đó đã nói: “Lời của trẫm, là thánh chỉ!”

Rồi khung cảnh ấy tan ra như con sóng bạc đầu đêm ngày vỗ về bãi cát. Câu hò bình dị ai đó ngân mãi nơi cửa bể, tưởng như có thể nghe thấy đến tóc bạc da mòi.

“Con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc

Con cá ngư ông móng nước biển khơi

Gặp nhau xin phân tỏ đôi lời

Kẻo mai kia con cá về sông vịnh, con chim nọ đổi dời về non xanh”

Còn nhớ người đó có lần hỏi cô, có biết vì sao nơi ấy được gọi là Cửa Tùng. Cô lắc đầu. Người ấy chỉ về phía rừng thông phía sau Thừa Lương, nói rằng là vì tùng bách mọc gần bãi biển. Nơi sóng xô ghềnh đá có thể nghe thấy hương thơm tao nhã của núi rừng, cảm giác sơn thuỷ giao hoà đậm đà ý vị.

Giọng trầm ấm như hương tùng bách khiến cô chìm mãi trong những giấc mơ.

“Làm trai đứng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông.”

Lan Chỉ cười, khẽ khàng nói: “Là câu chữ của Hy Văn*?”

 “Em cũng biết sao?” Duy Tân gật gù nhìn cô, ánh mắt tràn ngập ý thán phục. “Không hổ danh là thiên kim nhà Thượng thư bộ Học.”

Cô mân mê chiếc khăn tay trắng muốt thêu hình bạch hạc đáo tùng, cất giọng ngâm nga êm dịu. Nơi đầu sóng ngọn gió, có thân tùng bách vững chãi trông ra bốn bề bát ngát, chí anh hào uy vũ cả một phương.

“Kiếp sau xin chớ làm người

Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.”

“Giữa trời vách đá cheo leo

Ai mà chịu rét thì trèo với thông.”(*)

(*)Nguyễn Công Trứ biệt hiệu Hy Văn, là một nhà quân sự, một nhà kinh tế và một nhà thơ lỗi lạc trong lịch sử Việt Nam cận đại. Hai đoạn thơ trích ở trên là từ bài “Đi thi tự vịnh” và “Cây thông” do ông sáng tác.

Thuý Loan dìu tay chủ nhân, trong lòng vô cùng thắc mắc, bèn hỏi: “Ân Phi lệnh bà, mấy câu này từ sáng đến giờ người đã đọc đi đọc lại nhiều lần lắm rồi.”

Lan Chỉ khẽ lắc đầu, chùm tua vàng trên bộ dao* khẽ đong đưa phát ra âm thanh đinh đang vô cùng êm ái. “Lúc nãy đi ngang qua Thế Miếu, thấy mấy ngọn tùng cổ thụ, bất giác nhớ lại lúc chưa nhập cung mà thôi.”

(*) Một loại trang sức cài tóc của phụ nữ thời xưa

Năm xưa Thánh tổ Nhân Hoàng đế* cho người trồng những gốc tùng bách này, trải qua nhiều đời vua, cành lá vẫn cứ xum xuê rậm rạp.  Chỉ là tùng bách được chăm chút từng lá từng cành chốn cung son về khí khái thì không sao bì được với tùng bách mọc nơi cửa bể. Trong lòng bỗng nhiên nhớ lại năm xưa, năm tháng bên người ấy hệt như một giấc mộng đã qua, cố nhắm mắt thật chặt mỗi đêm cũng không sao thấy lại được nữa.

(*) Miếu hiệu của vua Minh Mạng

Về đến Đông Trinh Minh điện, mặt trời cũng đã gần đứng bóng, trong chái điện đã thấy bóng người. Cung nhân bẩm báo rằng có Diệu Tần và Nhu Tần từ Đoan Huy điện đến thỉnh an.

Lan Chỉ cười thầm, chẳng biết là thỉnh an hay là đến tìm người chống đỡ. Trên dưới trong cung ai cũng biết cô vừa vào cung đã được sắc phong Đệ Nhất giai phi, gia thế hiển hách lại còn vừa lòng Dương Hoàng Thái phi mẹ ruột Khải Định, e là ngôi Hoàng Quý phi đứng đầu hậu cung đó cũng chẳng còn xa. Chỉ mình cô hiểu rõ, Ân Phi này chẳng qua chỉ là cái danh hão, cả hậu cung của Khải Định dẫu là ngôi thứ ra sao cũng chỉ là cái danh hão. Không hiểu sao đám người này vẫn cứ chạy theo những thứ hão huyền như thế.

Hai vị tần phi mặc xiêm y trông khá bắt mắt, có thể nói uy thế còn lấn át cả Huệ Phi ở gian Tây điện Trinh Minh. Lan Chỉ vừa bước vào đã một câu thỉnh an, hai câu thăm hỏi, cử chỉ hết sức thân tình, lại còn mang theo vài món bánh trái đem dâng. Đám người này đúng là biết mượn gió chống thuyền, thấy ai có quyền có thế liền lao vào bợ đỡ.

Lan Chỉ trong lòng khinh bỉ, lấy hai chiếc vòng nạm ngọc thưởng cho hai người họ, sau đó lấy cớ nghỉ trưa mà đuổi khéo họ đi. Trước khi ai nấy phủi áo rời khỏi, cũng không quên xin thêm ân điển:”Mong lệnh bà chiếu cố chúng tần thiếp, nói tốt về chúng tần thiếp trước mặt Bệ hạ.”

Lan Chỉ cười cười, mi mắt khẽ động:”Đó là tất nhiên, các chị không cần quá khách sáo.”

Hai tà áo xanh xanh vừa khuất bóng khỏi Trinh Minh điện, bánh trái cũng đã bị Thuý Loan đem đổ bỏ. Lan Chỉ ngồi trên sạp gỗ, đong đưa cây quạt lụa hoạ hình lá liễu, giọng điệu hết sức trầm tư: “Đám người này tuy là không có năng lực, nhưng mượn tay bọn họ gây chút khó khăn cho Huệ Tần kia cũng có thể chứ?”

Thuý Loan đáp lời: “Lệnh bà cần gì đối phó Huệ Tần. Cô ta không được sủng ái, cũng không được Thái phi xem trọng, hoàn toàn không thể lấn át lệnh bà.”

Lan Chỉ lắc đầu, đầu mày khoé mắt càng thêm nét suy tư: “Hoàn cảnh hiện tại trong hậu cung này, sự sủng ái cũng không quan trọng. Cái bản cung hướng đến là tương lai sau này. Chỉ khi ngồi chắc ngôi vị đó, cuộc đời này mới thật sự bình yên.”

Một lời nói ra tâm tư cũng xao động, hết đợt này đén đợt khác tựa như sóng biển nơi Cửa Tùng ngày trước, liên miên không dứt. Ngoài sân nắng dội xuống nền đá như thiêu như đốt, thách thức rêu phong bền dạ bám chân trên từng phiến gạch. Lòng người cũng nôn nóng không yên, hai chữ “bình yên” nghe sao xa vời vợi…

Trời đã sụp tối, đàn chim mỏi cánh nơi vòm trời biến mất, kéo theo màn đêm tĩnh mịch ùa về. Đại Nội lên đèn sáng rực, từ những lầu gác cao có thể trông thấy những dải đèn lồng hệt như những những con rồng uốn mình bảo vệ cung cấm. Một vài cung thất phát ra ánh điện sáng choang, thứ ánh sáng Tây Dương lạ lùng mà rực rỡ, lấn át ánh đèn nến lập loè của cung thất tự bao đời.

Cung Càn Thanh vừa là chốn nghị sự vừa là tẩm cung của đế vương, đến nơi chỉ thấy vài tốp thị vệ đứng gác, quan phục giống như người Tây lại ôm súng Tây.  Người hoài cổ không khỏi thở dài, vàng son vương giả đã sắp không còn nữa.

Lan Chỉ bước vào điện, thấy cảnh tượng một quân một thần cùng ngồi ăn một  bàn ngự thiện, trong lòng có chút ngạc nhiên. Cũng không phải quá bất ngờ, chỉ là không hiểu vì sao hắn lại xem trọng người này đến như vậy.

Y là một thị vệ, tuổi cũng đã tam tuần, không còn là một thanh niên trẻ tuổi. Nước da hơi ngâm đi vì nhiều phen canh gác dưới nắng, quan phục ôm trọn một thân người khoẻ mạnh lực cường, rõ ràng hoàn toàn đối lập với Khải Định. Lại càng không hiểu hai người khác nhau như vậy, thì cớ gì lại được ở bên Khải Định hầu hạ ngự tiền.

“Đắc Vọng, cứ ngồi lại đi, đừng e ngại cô ta.” Thấy người bên cạnh toan rời đi, Khải Định níu tay hắn lại, dôi bên dùng dằng ba lần bốn lượt.

Nguyễn Đắc Vọng nhìn thấy Lan Chỉ, nhất thời lúng túng, mãi một lúc sau mới cúi người hành lễ: “Ân Phi lệnh bà vạn phúc.”

Y không ngồi dùng thiện cùng Khải Định nữa mà ân cần đứng bên cạnh Khải Định, hệt như muốn bảo vệ hắn. Cô nhìn y mà mà cười, ánh mắt lại hướng về Khải Định. “Lúc nãy vừa đến Diên Thọ cung vấn an hai vị Thái phi, Thái phi có dặn trên đường về ghé sang Càn Thanh cung mang chút canh bổ cho ngài ngự dụng. Mấy hôm nay trời nóng bức, canh củ sen giúp thanh nhiệt, ăn uống sẽ có khẩu vị hơn.” Cô lấy ống tay áo che lấy khoé miệng giương nụ cười: “Không ngờ ngài lại ăn ngon miệng trước rồi, canh của Thái phi chắc sẽ không dùng đến.”

Khải Định khéo người bên cạnh ngồi xuống, cử chỉ rất đỗi dịu dàng, đoạn trầm giọng nói với cô: “Cô vừa đến chỗ Mẫu phi sao, Mẫu phi định đoạt thế nào?”

“Thái phi có nói, chuyện giao Hoàng tử cho tôi nuôi dưỡng vốn đã được ghi trong Thánh chỉ sắc phong, hơn nữa cũng rất hợp ý bà. Chỉ có điều…” Đến đây cô có chút ngập ngừng, tựa như nỗi lo sợ trong lòng không biết từ đâu ùa đến, khiến ngay đến giọng nói cũng nhỏ đi. “… Thái tử còn quá nhỏ, lại không chịu tiếp xúc với người lạ, e là trong một sớm một chiều sẽ không thể xem tôi là mẹ của nó.”

Người bên cạnh gắp cho Khải Định một miếng chả phụng đặt vào bát sứ men ngọc, hắn liền nhanh chóng thưởng thức, cứ như sợ bay mất thứ hương vị nào đó chẳng gọi thành tên.  Đũa ngà vừa đặt xuống, giọng nói đã cất lên, nét trầm tư cũng vơi bớt: “Không quen thì phải tập cho nó quen đi. Trẫm chuẩn tấu cho Ân Phi mỗi ngày đều đến chăm sóc Thái tử Vĩnh Thuỵ, vun đắp tình mẫu tử.”

Lan Chỉ mỉm cười, đôi mày lá liễu dãn ra, đến đáy mắt cũng rực sáng. Cô nhún gối hành lễ, hạ giọng nói: “Lan Chỉ cảm tạ Thánh ân.”

Rời khỏi Càn Thanh cung, trăng đã lên cao. Ánh điện phương Tây át cả vầng trăng lưỡi liềm. Đêm nay trời trong vắt, bầu thiên không cứ như tấm vải nhung điểm xuyết kim sa lấp lánh. Ánh đèn ánh lửa thi nhau chiếu sáng cả Đại Nội, phủ lên khắp nơi một sắc vàng trầm mặc mà dai dẳng, tựa như cuộc chiến ngầm nơi cung cấm đang lặng lẽ diễn ra.

Trinh Minh điện, gian phía Tây chỉ có ánh nến lập loè, cũng đủ biết chủ nhân nơi ấy không được đế vương xem trọng. Gian phía Đông của Lan Chỉ hoàn toàn đối lấp, ánh điện sáng rỡ, đến cả bày trí trong cung cũng là vật phẩm từ Tây Dương dùng tàu thuỷ vượt biển mang về An Nam, có thể nói trân quý đến tột cùng.

Lan Chỉ vươn tay để Thuý Loan dìu vào đại điện, ánh điện nhuộm tà áo hồng cứ như phong quang chiếu rọi, khoé môi cũng theo đó mà cong lên thành một nụ cười. Với cô mà nói, cười chưa hẳn là hạnh phúc, nhưng tâm nguyện bản thân sắp đạt thành cũng nên cười mới phải. Nụ cười đắc thắng ngạo nghễ trên môi, cảm nhận được cả quyền lực thao túng vận mệnh trong tay cũng hiện lên đầu mày khoé mắt.

Chấn cung kiến nhật, Đoài cung ẩn tinh*. Huệ Tần Hoàng Cúc ở Tây Trinh Minh điện kia hệt như ngôi sao nhỏ bé kia vậy, vĩnh viễn cũng không thể thi gan cùng vầng dương. Trận chiến tranh đoạt chốn hậu cung này, Ân Phi Hồ Lan Chỉ tin chắc bản thân chính là kẻ thắng cuộc.

(*) Câu thơ trích trong bài thơ sấm về sự lên ngôi của Lý Thái Tổ. Tạm dịch: “Phía Đông mặt trời mọc, phía Tây sao náo hình”. Nguyên bản là ý chỉ sự thành lập của triều Lý và sự tàn lụi của triều Tiền Lê, hệt như hết đêm lại đến ngày, sao  lặn thì mặt trời lại mọc. Ở đây là ý chỉ gian phía Đông điện Trinh Minh thì vinh hiển, còn gian phía Tây thì lại lạnh lẽo hiu quạnh.

#Nam_quốc_Hậu_phi #Lan_Chỉ_tiểu_truyện #Hậu_cung #Cung_đấu #Ngôn_tình #Dã_sử #Triều_Nguyễn #Khải_Định_Tam_bộ_khúc