Phần mở đầu.

Đã mấy ngày qua, trên bầu trời Đông Kinh xuất hiện những đám mây hình thù kỳ quái, nửa đục nửa vàng, cuồn cuộn vần vũ mãi không thôi. Thi thoảng ở trên cao vọng xuống một tiếng sấm khan, lạc lõng mà ghê rợn, giống như tiếng gầm của một con dã thú bị giam hãm cả ngàn năm. Gió cũng bắt đầu thổi, cuốn cát bụi bay thành thành từng vòng tròn kì dị trên mặt đất. Không gian tưởng như bị nhuộm bởi một màu tím thẫm, gieo vào người cảm giác ngột ngạt đến bất an.

Qua tiết trung thu này là ngày xử tử tội thần phản nghịch cùng toàn thể gia quyến tam tộc.

Tuy rằng triều đình đã cố gắng trấn áp nhưng những tin đồn cứ như sóng ngầm, âm ỉ không bao giờ dứt. Người ta hoài nghi lý do thực sự khiến đức vua băng hà, người ta đoán già đoán non thái tử trẻ tuổi sẽ kế vị ngôi báu như thế nào... Nhưng chưa có vụ án nào, người ta lại quan tâm, lại bàn luận, lại lo lắng cho kết cục của kẻ giết vua đến như vậy.

Khai quốc công thần cùng người thiếp yêu mưu hại đương kim hoàng thượng, thật đúng là chuyện có một không hai trong lịch sử Đại Việt!

...

Ngồi trong đại lao, một người đàn ông đã ngoài sáu mươi tuổi đang lặng lẽ ngâm nga những dòng cuối cùng trong bài thơ còn chưa được đặt tên. Nhìn cái cách ông bình thản dựa lưng vào tường và ngâm nga khúc thơ về đám trẻ mục đồng, không ai nghĩ rằng ông là một tử tù sắp chịu án chém. Trong suy nghĩ của con người đã dạn dày trải nghiệm chốn quan trường ấy, cái chết chưa bao giờ là một điều gì đó quá đáng sợ. "Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung", huống hồ khi cái chết của hoàng thượng ít nhiều cũng có liên quan đến mình, ông đâu dám cầu được sống! Nhưng không phải lúc nào người ta hạ quyết tâm để chết cũng đồng nghĩa với việc họ ra đi hoàn toàn thanh thản. Việc miệng lưỡi thế gian coi ông có công hay có tội, ông không màng, bởi ông tin rằng trong những bậc minh quân đời sau, nhất định sẽ có người thay ông rửa nỗi oan khiên này. Điều thực sự khiến ông tiếc hận chính là việc hàng trăm mạng người vô tội trong tam tộc vì mình mà chịu chung án tử. Cứ mỗi khi nghĩ đến cảnh máu chảy đầu rơi, dù có sắt đá đến đâu, ông cũng không thể không hận cái nghiệp chướng quan trường của mình. 

Những vần thơ cuối cùng rồi cũng kết thúc. Nguyễn Trãi nhẩm tính, chỉ còn hai ngày nữa là đến tiết trung thu...

...

Trong khi đó, một lão bộc quần áo nhàu nhĩ đang vội vã dẫn một thiếu phụ tìm đường xuống bến đò phía nam. Cả hai người họ đang cố gắng chạy trốn khỏi kinh thành càng xa càng tốt.

...

Ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất (tức năm 1442), chưa đầy ba tuần sau khi vua Lê Thái Tông băng hà, bản án tru di tam tộc kẻ nghịch thần giết vua được thi hành. Chưa bao giờ kinh thành ồn ào như thế: triều đình thi hành án xử trảm một lúc hàng trăm mạng người.

Nguyễn Trãi bị diễu trên phố bằng một chiếc xe-cũi, cả hai chân hai tay đều bị trói chặt vào bốn góc xe bằng những sợi xích to bản, lạnh ngắt. Phía sau ông, một đoàn người khốn khổ đang bị kìm kẹp bằng những sợi thừng dài, bước đi xiêu vẹp giữa hai hàng gươm giáo lạnh ngắt và tiếng lính quát tháo đến chói tai. Người dân, dù thực sự quan tâm hay vì hiếu kì muốn nhìn mặt tử tù đều đổ xô ra xem, khiến con đường dẫn đến pháp trường ồn ã, nhốn nháo vô cùng.

...

Người thiếu phụ nọ hướng về phương bắc và bật khóc. Trong mắt bà, bầu trời phương bắc đã hóa thành màu đỏ thẫm, sắc đỏ tang thương như chính cảm giác sinh li tử biệt đang gặm nhấm tâm trí của bà lúc này. Vẫn biết chạy trốn là hèn nhát, nhưng vì đứa trẻ đáng thương đang mang trong bụng, bà không thể không trốn chạy.

...

Phủ Tĩnh Gia, Thanh Hoa, bảy năm sau.

Người góa phụ họ Phạm tên Mẫn một mình nuôi con đã bảy năm. Người dân quanh đây chỉ biết đại khái bà đến từ kinh thành, từng là thiếp trong một gia đình buôn bán vải. Sau bị người ta lừa hết vốn liếng làm ăn, chồng bà vì không có tiền trả nợ nên cùng quẫn, chẳng bao lâu sau sinh bệnh mà mất, gia đình cũng tan tác mỗi người một nơi. Bà Mẫn một thân một mình lưu lạc xuống phương nam, cuối cùng chọn thôn Dự Quần nhỏ bé xa xôi này làm nơi dừng chân. Trong gian nhà tranh dựng tuềnh toàng, người mẹ ngày ngày đi làm thuê nuôi con, cuộc sống rau cháo tuy vất vả nhưng yên bình.

Một ngày nọ, bọn giặc cỏ tràn vào thôn Dự Quần. Đứng đầu bọn cướp là Đỗ Hải, một tên thảo khấu vùng Lạng Sơn, mấy năm trước ở Lạng Sơn vì trót gây ra án mạng nên bị quan binh tróc nã, đành xuôi xuống phía nam lẩn tránh. Lâu ngày, hắn ở đây gây dựng lực lượng mới, hùng cứ quanh đất Thanh Hóa, cứ nửa năm lại kéo vào các thôn làng cướp bóc sách nhiễu một lần. Nghe nói nửa năm trước vì mất mùa, người trong thôn Dự Quần không có thóc gạo đưa cho chúng nên giờ chúng kéo lâu la đến trả thù. Quan lại bất lực lại sợ phiền phức, đóng cửa làm ngơ, chỉ còn dân đen phải đưa cổ ra chịu họa.

Tên tướng cướp chỉ cần đá nhẹ chân là cánh cửa ọp ẹp của nhà bà Mẫn đã đổ xuống. Xưa nay hắn ăn cướp chẳng chừa giàu nghèo, chỗ nào kiếm chác được đều có mặt hắn, đến ngôi nhà tranh tuềnh toàng của bà Mẫn cũng không phải ngoại lệ. Nhìn tên tướng cướp đang điên cuồng lùng sục khắp nơi, bà Mẫn khiếp đảm ôm chặt cậu con trai trong tay, đến thở cũng không dám thở mạnh.

Khi Đỗ Hải sờ đến chiếc hộp nhỏ được quấn kỹ ở đầu giường, Vũ thấy tay mẹ mình khẽ run lên.

Một chiếc vòng cổ chế tác tinh xảo được Đỗ Hải lôi ra.

Tuy còn nhỏ nhưng Vũ biết rất rõ chiếc vòng này. Mẹ kể, đây là bảo vật gia tộc, cũng là kỷ vật cuối cùng của cha để lại cho hai mẹ con trước khi qua đời. Trừ người trong gia tộc, không một ai có quyền xâm phạm bảo vật gia truyền ấy.

Khi Đỗ Hải định bỏ chiếc vòng vào túi, vẻ khiếp nhược trong mắt bà Mẫn biến thành căm phẫn. 

"Các người không được lấy thứ đó". Bà Mẫn đột ngột vùng dậy níu tay Đỗ Hải: "Muốn lấy gì thì lấy, nhưng hãy trả chiếc vòng đó lại cho tôi."

Đỗ Hải cười nhạt rồi tiện tay đẩy bà Mẫn ra. Người góa phụ yếu đuối không chống nổi sức lực điền của hắn, kết quả ngã dúi dụi xuống đất, đầu đập vào thành giường đến bất tỉnh. Thấy mẹ mình bị đánh, Vũ vội chạy đến bên mẹ, bất chấp hai tên thuộc hạ của Đỗ Hải lúc nào cũng lăm le dao đứng bên cạnh. Cậu không khóc, không sợ, chỉ đưa hai bàn tay nhỏ bé yếu ớt lên sờ vào thái dương bà Mẫn và căm hận nhìn vào vệt máu đỏ loang sang cả tay mình.Ngó qua bà Mẫn và thằng con chưa đầy bảy tuổi, Đỗ Hải còn lầm bầm chửi rủa vài câu rồi xách túi đi thẳng.

...

Chiếc thuyền chở bọn cướp đi ra giữa sông Nhị Hà. Đã ba ngày kể từ khi đến thôn Dự Quần, hôm nay Đỗ Hải đích thân đến tận Đông Kinh, vừa được nhịp mở rộng tầm mắt, vừa để tiêu thụ mấy món đồ cướp được. Trong số đó, đáng chú ý nhất là chiếc vòng cổ của người góa phụ nọ. Bảo vật! Bình sinh cướp bóc đã lâu nhưng hắn chưa từng được nhìn thấy thứ gì đẹp đến vậy. Sợi dây làm bằng vàng, mỏng manh như những sợi tơ xoắn xít kết thành, cầm trên tay lại có cảm giác lạnh giá mơ hồ. Sợi vàng chau chuốt ôm lấy viên ngọc màu xanh lục hình ngũ giác, bề mặt trơn nhẵn tuyệt hảo, nhìn vào đó có lúc thấy một màu xanh biếc huyền hoặc, có lúc lại tưởng trong suốt không nhìn thấu đáy, từ sâu thẳm tột cùng tỏa ra tinh quang lấp lánh huyền ảo. Tuy cũng là vàng, là ngọc, nhưng dường như chiếc vòng lại chứa trong nó một linh hồn ma mị đến tuyệt ẩn.

Khi thuyền chở bọn cướp ra giữa sông, sấm sét và cuồng phong ở đâu bất chợt nổi lên. Gió cuốn nước thành từng cuộn xoáy đục ngầu, trông xa hệt như những con trăn khổng lồ táo tợn trồi lên từ lòng sông. Những con quái vật ấy đã bị bỏ đói hàng ngàn năm, nay hung hăng ráo riết cuốn lấy tất thảy mọi thứ rồi ngấu nghiến vào trong lòng. Nước từ bốn phía ào ạt dội vào trong khoang thuyền. Sức nước cuồng bạo chọc thủng thành vách gỗ. Chẳng mấy chốc, con thuyền vốn to lớn cũng bị sóng quật trở nên tàn tạ, hệt như chiếc lá mỏng manh trong cơn thịnh nộ của đất trời. Đỗ Hải chợt tỉnh giấc mộng. Ý thức được tình cảnh hiện tại, hắn điên cuồng bấu víu lấy bất cứ thứ gì trong tầm với.

Vô ích, chưa đầy một khắc sau, thuyền bắt đầu chìm dần, kéo theo cả bọn cướp xuống lòng sông đang sôi ùng ục.

Chiếc vòng ngọc lục bảo tuột khỏi tay tên cướp, như vô tình tỏa ra một thứ ánh sáng xanh dịu trước khi chìm dần, chìm dần...

Chương sau >
Ánh Tuyết Triều Dương

Tạo ngày 14/11/2016, Cập nhật ngày 03/04/2017

1

awesome

0

nice

4

loved!

0

lol!

0

funny

1

fail!

0

omg

0

ew

Chấm điểm bài viết

1

2

3

4

5

Kết nối với vinote