Chương 82. Tái xuất

huin.jpg

(Mỹ nhân khuynh thành, nào ai hay lòng trăm nghìn hận.

Giai nhân như mộng, một ngón đàn điên đảo nhân tâm)

(Ảnh minh họa)

...

Vì bận rộn ở lại viện thái y để nghiên cứu về tình trạng kì lạ của Tư Thành nên khi Từ Trọng Sinh bước ra khỏi cửa cung thì trời đã nhá nhem tối.

Căn nhà mà Tư Thành ban cho Từ Trọng Sinh nằm cách hoàng cung không xa, đi bộ nhiều nhất cũng chỉ mất tầm một khắc (1) nhưng lại bắt buộc phải băng qua một con ngõ vắng. Vì sợ chuyện bất trắc nên Tư Thành muốn cử thị vệ đi cùng Từ Trọng Sinh, nhưng lần nào y cũng cười trừ rồi lễ phép từ chối vì cho rằng mình chỉ là phận thái y quèn, không đáng để hoàng thượng khua chiêng gióng trống. Thực ra, Từ Trọng Sinh từ chối vì y tin rằng bản thân mình không liên quan đến những trò tranh đấu sinh diệt.

Hôm nay không có trăng nên ngõ vắng càng thêm sâu hun hút. Bóng tối trước mặt như nhăm nhe nuốt chửng ánh đèn leo lét trên tay ai. Bóng người lác đác khuất dần sau lưng. Tiếng bước chân vọng lại từng nhịp đơn độc khiến Từ Trọng Sinh có cảm giác như đang bị ai đó theo dõi. Mặc kệ! Y tự cười mình thần hồn nát thần tính rồi tiếp tục bước vào.

Không phải thần hồn nát thần tính…

Gió rít theo đường kiếm, mang theo hơi thở sặc mùi máu tanh. Khi Từ Trọng Sinh nhận ra sự tồn tại của kẻ đằng sau thì lưỡi kiếm bén nhọn đã chém về phía y. Từ Trọng Sinh sợ hãi lùi lại theo bản năng, luống cuống thế nào mà vấp phải một hòn đá rồi ngã bổ chửng. Nhưng trong cái rủi lại có cái may. Đòn tấn công của tên áo đen hụt mục tiêu, chém nát chiếc đèn vừa văng ra trước khi dữ dội thu về.

Tàn lửa vụt sáng, trong khoảnh khắc đã soi rõ đôi mắt lạnh đến thấu xương.

Từ Trọng Sinh cố nheo mắt để nhìn cho rõ. Người này…

Nhưng lằn ranh sinh tử không cho phép Từ Trọng Sinh suy nghĩ quá nhiều. Lợi dụng lúc tên áo đen đang bận rộn gạt tàn lửa, y lồm cồm bò dậy rồi cắm đầu chạy trối chết. Chỉ cần thoát khỏi ngõ này, ra đến đường lớn là y sẽ có hi vọng.

Điều mà Từ Trọng Sinh nghĩ được thì tên áo đen còn nghĩ tới sớm hơn!

Có cái gì đó lạnh lùng xuyên qua bắp tay của Từ Trọng Sinh. Ý thức chạy trốn trong y mất dần bởi cảm giác đau đến tê dại. Kẻ kia khoái trá nhìn con mồi đang ngã quỵ rồi hả hê vung kiếm lên lần nữa. Lần này, sẽ không chỉ là một cánh tay…

. Nhưng nhát kiếm trí mạng ấy đã không thể chém xuống. Giữa thời khắc sinh tử, một người khác đã vọt tới và chặn ngang đường kiếm của tên áo đen. Tiếng kim loại va vào nhau nghe chát chúa. Hai người đều bị đối phương đẩy bật ra trước khi kịp thu kiếm về.

Lúc trước là mèo vờn chuột. Giờ mới là cao thủ so tài thực sự!

Nhận ra mình bị chọc gậy bánh xe, tên áo đen hét lên một tiếng rồi lao về phía người kia. Người kia cười khẩy rồi cũng giơ kiếm lên đỡ. Chiêu tiếp chiêu. Thế át thế. Tên áo đen có lợi thế về thân thủ. Hắn nhanh nhẹn như sóc, chiêu thức biến ảo nhập nhằng, đã mấy lần dồn người kia vào thế bí nhưng đối phương không phải tầm thường, lần nào cũng né tránh được rồi tận lực đánh trả. Chiến thuật của anh ta rất đơn giản, chủ yếu dựa vào sức mạnh của trọng đao để át chế đối phương. Tên áo đen ban đầu còn cố tiếp cận tấn công, sau thì không dám nữa. Công thủ đảo lộn. Lằng nhằng một lúc lâu, người kia dần đánh cho hắn phải lui về cuối ngõ.

Đúng lúc ấy…

“Một bầy trẻ nhỏ… bịt mắt bắt dê… dê vấp bờ đê… ngã kềnh bốn vó…”

Đám trẻ đang nháo nhào chơi trốn tìm chợt dừng lại ngay đầu con ngõ nhỏ. Hai kẻ nào đó vội giấu nhẹm kiếm ra sau lưng. Tên áo đen trừng mắt hù dọa mấy cậu nhóc xuất hiện không đúng lúc, còn người kia thì tử tế đưa tay lên suỵt một cái, đồng thời lách người sang bên để che đi Từ Trọng Sinh. Đáp lại sự nhiệt tình của bọn họ là một tiếng khóc la tru tréo:

“Con Thắm ơi! Thằng Tèo ơi! Chúng mày cứu tao với! Hu hu… Ở đây có người xấu!”

Hai chữ “người xấu” ngân lên rất uyển chuyển và rõ ràng.

Chẳng có con Thắm, thằng Tèo nào xuất hiện. Chỉ có tiếng gọi nhau í ới của mấy bà mẹ đang ngồi buôn chuyện ở gần đấy. Biết không thể dùng dằng được nữa, tên áo đen bực mình chửi thề một câu rồi đu người qua tường, biến mất trong chớp mắt.

Đêm hôm đó trời đột ngột nổi gió lớn. Gió từ phương bắc luôn lạnh đến cắt da cắt thịt. Hơi lạnh len lỏi từng ngóc ngách. Cửa lớn cửa nhỏ trong cung đều được đóng kín mà người ta vẫn có cảm giác như đang đứng giữa đồng hoang.

Dãy hành lang dài dẫn đến điện Bảo Quang vang lên tiếng bước chân hơi loạn. Tênthái giám dẫn đường chật vật giữ cho ngọn đèn trên tay khỏi tắt, thi thoảng lại co rúm người vì lạnh. Người theo sau hắn, rõ ràng ăn mặc phong phanh hơn rất nhiều, lại không có biểu hiện gì giống như sợ gió. Gã cứ ưỡn ngực và ngẩng cao đầu mà đi.

Cuối giờ hợi. Cửa điện Bảo Quang chưa khép.

Tư Thành đang đề nốt những dòng cuối của bài thơ vừa sáng tác. Hôm nay Đặng Phúc không ở đây. Khắp tòa điện rộng lớn chỉ có mình đế vương đang chắp bút đứng đơn độc. Người mới tới bỏ mũ trùm đầu xuống, lưỡng lự định hành lễ rồi lại thôi. Gã thấy đế vương không thèm chú ý đến mình thì bật cười ha hả, nhả ra thứ giọng lơ lớ khó nghe:

“Người ta nói không sai! An Nam quốc vương đúng là kẻ nhớ lâu thù dai mà!”

“Đừng mượn “người ta” nào đó để nói thay lòng mình!”

Bút rồng lượn nhanh hơn. Kẻ phía dưới mất hứng ngậm miệng.

Một lúc sau, Tư Thành mới ngẩng đầu nhìn kẻ đang dần mất kiên nhẫn dưới kia. Nếu những người từng có mặt trong bữa tiệc thiết đãi sứ thần đại Minh ba năm trước mà được chứng kiến thời khắc này, hẳn rằng họ sẽ phải thở dài cảm thán trước nhân sinh quá đỗi khôn lường. Bởi vì vị khách nửa đêm xuất hiện trong điện Bảo Quang, kiếm sĩ bí ẩn vừa cứu mạng Từ Trọng Sinh lại chính là tên sứ thần ngông nghênh đã bị Tư Thành tống cổ về nước ba năm trước: Phong Địch tướng quân Thạch Bưu!

 Năm đó Thạch Bưu đi sứ sang Đại Việt, mượn chuyện ngoại giao để âm thầm công kích vua quan triều đình. Nhờ Tư Thành kịp thời triệt phá Thưởng Nguyệt lâu nên mưu đồ xấu của gã bị thất bại. Thạch Bưu bị Lê Khải Triều đánh cho một trận nhừ tử rồi tống cổ về nước, nhục nhã không sao kể xiết. Nhưng đó mới chỉ là khởi đầu cho sự tàn lụi của nhà họ Thạch sau này. Lời Tư Thành tiên đoán về mối họa “công cao chấn chủ” đã trở thành sự thật. Ông chú Thạch Hanh chết trong ngục. Nhà họ Thạch bị diệt. Trong mắt triều đình đại Minh, Thạch Bưu cũng là một kẻ đã lĩnh án chém.

Có điều, ba ngày trước, “kẻ chết chém” đã đến thành Đông Kinh và đường hoàng cầu kiến thiên tử Đại Việt.

Tư Thành không muốn hỏi Thạch Bưu đã qua mặt triều đình Đại Minh như thế nào. Mỗi người đều có phương thức riêng để sinh tồn. Thạch Bưu dám trèo cao thì cũng phải có bản lĩnh chịu ngã đau. Điều mà Tư Thành quan tâm là giờ Thạch Bưu đã trở mặt với cố quốc, đã coi thiên tử đại Minh là kẻ thù, thậm chí còn chạy đến xin nương nhờ dưới chân hắn. Tư Thành không phải người rộng lượng. Nhưng hắn rất thẳng thắn. Nếu Thạch Bưu chứng minh được thành ý thì hắn sẽ thu nhận kẻ lưu vong này.

“Giữa hai chúng ta không cần phải nhiều lời nữa. Thạch Bưu, trẫm cảm ơn ngươi đã cứu người của trẫm, nhưng trẫm sẽ không tin tưởng ngươi vì ngươi đã từng có ý đồ với Đại Việt. Ngươi được chấp nhận ở đây với tư cách của một kẻ đã bị chính cố quốc xua đuổi. Trẫm mong rằng sẽ không bao giờ phải nhắc lại với ngươi điều ấy.”

Hơi thở vốn bị đè nén cuối cùng cũng thoải mái bật ra. Thạch Bưu xoa xoa hai bàn tay vào nhau và cười lấy lòng:

“Tuy ta không phải người quang minh lỗi lạc nhưng cũng không phải kẻ vong ân bội nghĩa. Trước kia quốc vương đã từng cảnh báo ta về lòng dạ của tên khốn họ Chu đó, nay lại không nuôi thù cũ mà đồng ý cho ta nương nhờ, nếu ta muốn sống an ổn thì tất nhiên sẽ tận lực báo đáp.” Rồi gã ngừng cười và nói rất nghiêm túc. “Không biết quốc vương có điều gì cần ta giải đáp không?”

Nói thẳng hơn, gã sẵn sàng bán rẻ tin tức về triều chính đại Minh cho ngài.

Nhưng Tư Thành lại không mấy hào hứng với món hời trời cho ấy. Chiến tranh với Đại Minh? Nôn nóng đem trứng chọi đá thì con dân Đại Việt sẽ chịu khổ. Hắn có việc quan trọng hơn cần giải quyết, về kẻ thù trực diện của hắn lúc này, tử tà Lưu Tích Nguyên.

Nghe đối phương hỏi về tử tà, Thạch Bưu à lên một tiếng rồi bắt đầu nhớ lại chuyện cũ…

Đó là năm đầu Cảnh Thái hoàng đế (2) mới đăng cơ, có vị ngôn quan đứng ra chất vấn về sự hiện diện của một kẻ đeo mặt nạ bên cạnh thiên tử. Khi đó, Cảnh Thái hoàng đế chỉ cười nói rằng đó là một cận thần theo ngài từ vương phủ tới, vì gương mặt bị bỏng nên mới phải lấy mặt nạ che đi nửa khuôn mặt. Câu chuyện dừng lại ở đó, vớ vẩn đến nỗi sẽ chẳng ai nhớ nếu như mấy ngày sau, vị ngôn quan nọ không bị chết bất đắc kì tử trên giường ngủ. Vụ ám sát trọng thần bị chính Cảnh Thái hoàng đế lờ đi, và vị “cận thần của hoàng đế” bắt đầu khiến người ta sợ hãi.

“Chẳng ai biết được diện mạo thực sự của hắn. Người ta chỉ biết rằng hắn đến từ An Nam xa xôi và đã lập được kì tích khi khiến Cảnh Thái hoàng đế vô cùng coi trọng. Từ chính sự đến hậu cung, việc gì Cảnh Thái hoàng đế cũng hỏi qua ý kiến của hắn. Hắn thì có vẻ không mấy bận tâm đến chuyện tranh đấu trên triều đình, nhưng nếu hắn cười với ai thì chắc chắn cả nhà người đó sẽ chết rất thảm. »

Kể xong, Thạch Bưu còn cảm thấy may mắn vì chưa từng tranh chấp trực diện với tên tử tà này.

“Ngươi nói hắn từng phò trợ Cảnh Thái hoàng đế lên ngôi, nhưng sau khi Thiên Thuận hoàng đế (3) phục vị thì hắn đã biến mất không một dấu vết?”

Thạch Bưu gật gật đầu. Mấy năm đó triều chính rất loạn. Ngôi vua đổi chủ, hoàng tộc thay máu, dù tử tà từng khiến người ta sợ hãi thì hắn cũng chỉ là một chiếc lá giữa vũ bão chính trị. Ai bận tâm hắn bị Thiên Thuận hoàng đế giết chết như thế nào?

Nhưng Tư Thành lại không nghĩ phần lớn người dân đại Minh. Hắn cảm thấy nhân vật này sẽ không dễ dàng chịu chết. Thậm chí, có thể chính hắn đã thổi lên bão tố, khiến ngọn lửa ở đại Minh cháy mạnh hơn, để bản thân nhân lúc loạn lạc trở về Đại Việt.

Đùa bỡn cả triều chính của người khác trong tay. Lưu Tích Nguyên, Đại Việt thật lắm nhân tài!

Vốn cứ tưởng mọi chuyện chỉ đến thế thì câu chốt hạ của Thạch Bưu như dội một gáo nước lạnh vào lòng tin của Tư Thành. Hai tay hắn đan chặt vào nhau, vẻ trầm ngâm trong mắt thoáng chuyển thành lạnh lẽo. Hắn kiên nhẫn lắng nghe không sót một chữ nào…

Lưu Tích Nguyên chỉ sang Bắc Kinh một thời gian ngắn ngủi sau khi Mạc Viên Nhiên bỏ trốn, còn “tử tà” mà Thạch Bưu biết lại đi theo vua Minh từ nhỏ. Lưu Tích Nguyên là người sống cùng thời với Tuyên Từ thái hậu trong khi Cảnh Thái hoàng đế mới ngoài ba mươi tuổi lại coi “tử tà” là em trai kết nghĩa.

Nói như vậy, “tử tà Lưu Tích Nguyên”…

Chết tiệt! Bọn họ đã nhầm lẫn cả rồi! 

Thạch Bưu không hiểu rõ vì sao sắc mặt của Tư Thành chợt biến nên chỉ lắc đầu cười trừ. Tử tà là quỷ nước Nam. Hắn không thể mãi ôm mộng với người phương Bắc.

Tư Thành lại hỏi:

“Trước đây ngươi đã từng nói chuyện với hắn bao giờ chưa?”

Thạch Bưu chán nản lắc đầu. Kẻ kia đích thị là bóng ma, đến cả giọng nói cũng rất ít khi để lộ.

Hồi ức của ba ngày trước vẫn còn vẹn nguyên trong tâm trí của Tư Thành. Mưa gió ngoài kia đã ngừng, nhưng sóng gió trong lòng hắn thì đang âm ỉ cuộn dâng thêm lần nữa.

Đêm nay, Từ Trọng Sinh thoát nạn, thích khách chạy trốn, tử tà không phải là Lưu Tích Nguyên. Nếu như vậy…

Hắn phải để lão già kia sống lâu thêm mấy ngày nữa rồi!

Biết Tư Thành đang bận lòng nên Thạch Bưu không tiện chen ngang. Thực ra bản thân hắn cũng có điều phải suy nghĩ. Hành động lúc tối chỉ là một cơ hội để Thạch Bưu thể hiện thành ý với thiên tử Đại Việt. Hắn vốn không quá quan tâm con mồi và kẻ đi săn là ai, nhưng giờ nghĩ lại, hắn mới thấy thủ pháp của tên thích khách kia rất quen thuộc, giống như trước đó đã từng giao đấu với nhau rồi…

Làng Đan Xá đã ngủ yên. Khắp nơi chỉ còn đọng lại âm thanh của vó ngựa đạp lên những vũng nước loang loáng dọc đường. Con ngựa màu đen dừng lại trước miếu thờ thành hoàng làng rồi rẽ sang phía túp lều lụp xụp của lão Bản. Trên lưng ngựa là một bóng người cô độc, mượn bóng tối làm áo choàng đen, sát khí từ trận chiến vừa rồi vẫn chưa tiêu tán hết.

Thủ pháp của người kia rất quen thuộc, giống như trước đó đã từng giao đấu với nhau rồi…

Lê Khải Triều hơi ngờ ngợ kẻ ngáng chân mình là Thạch Bưu, chẳng qua hắn không chấp nhận nổi việc mình thất bại chỉ vì một kẻ đã chết. Sau khi đã quét ánh mắt lạnh lẽo để cảnh giới bốn phía, thần trộm Đại Việt lầm bầm chửi một câu rồi nhảy phóc xuống ngựa, xách theo thanh kiếm còn vương máu và hoàn thành nốt việc giết chóc vẫn đang dang dở.

Luôn luôn là như thế, tĩnh lặng sẽ là sự ngụy trang hoàn hảo nhất của cái chết…

Lão Bản đang lúi húi nhóm củi nấu cơm thì nghe thấy tiếng ai đó đẩy cửa bước vào. Nghĩ rằng người đến là Nguyễn Anh Vũ, bởi vì mấy ngày hôm nay y đều nghỉ lại ở đây, lão lật đật chạy ra mở cửa. Vừa đi, lão vừa hỏi:

“Công tử về rồi đó à? Tiểu thư Huyên vẫn…”

Nhưng rồi lão bản chợt khựng lại. Tuy cùng là bước chân rất nhẹ của kẻ học võ nhưng vóc dáng thì không giống!

Đó là một gương mặt lạ lẫm mà lão chưa trông thấy bao giờ.

Người kia thậm chí còn không nói một lời. Hắn lạnh lẽo vung kiếm lên. Kế đó, có bóng người ngã xuống, thậm chí lão Bản còn chưa kịp nhìn kẻ vừa giết mình lần cuối.

Quận Ai Thế Tử cẩn thận lau sạch vết máu trên kiếm rồi mới tra nó vào vỏ. Vì lão già vô dụng Lưu Tích Nguyên đang bị kìm chân trong cung nên hắn mới phải làm mấy việc lặt vặt như thế này. Hắn ngao ngán nhìn qua bếp củi vẫn đang cháy lép bép và xoay người bước đi. Chỉ là, trong thâm tâm của hắn chợt hiện lên một câu hỏi khá mới mẻ…

Tiểu thư? Lão Bản gọi Huyên là tiểu thư?

Cái chết của ông lão trông coi miếu thờ thành hoàng làng Đan Xá chẳng khác nào giông tố ập xuống ngôi làng vốn luôn yên bình. Dù lão Bản là người ở phương xa tới nhưng do bản tính hiền lành chất phác, lại thay làng Đan Xá trông giữ ngôi miếu thiêng suốt mười mấy năm nên từ lâu, dân làng đã coi lão như người thân của mình. Thi thể của lão được phát hiện vào một buổi sáng sớm giá buốt, trên cổ là một vết cắt sắc lẻm. Lão không nhắm mắt khiến ai nhìn cũng thấy thương tâm.

Khi Nguyễn Anh Vũ hay tin tìm đến thì huyệt đã được dân làng đào sắp xong.

Nguyễn Anh Vũ không được lớn lên cùng cha. Sư phụ dạy võ và lão Bản chính là hai bậc cha chú mà y kính trọng nhất. Không mạnh mẽ như vị sư phụ từng trải giang hồ, lão Bản tự biến mình thành một kẻ vô danh để tiện bề trợ giúp Nguyễn Anh Vũ. Lão âm thầm nghe ngóng động tĩnh ở kinh thành, thu thập tài liệu về vụ án năm xưa, đôi khi còn giúp Phong Vân kì sĩ thu dọn tàn cục. Ân nghĩa với Ức Trai tiên sinh khiến lão không tiếc đời mình. Thậm chí, ngày mà Nguyễn Anh Vũ dẫn Huyên tới và nói rằng y đã tìm thấy em gái, lão đã ôm cả hai anh em rồi khóc rất lâu.

Vậy mà ngày hôm nay, người rơi lệ lại là Nguyễn Anh Vũ.

Dân làng Đan Xá thấy một chàng trai trẻ tuổi quỳ bên xác lão Bản thì đều tự động bảo nhau lùi ra xa. Có người còn trách y là loại con cháu bất hiếu, khi cha chú chết rồi mới thấy mặt. Nguyễn Anh Vũ nghe thấy tất cả nhưng không buồn đáp lại. Họ mắng có oan đâu! Lỗi là tại y. Tại y cứ mải lo lắng cho Mạc Viên Nhiên, cho Huyên mà quên mất rằng chính lão Bản mới là người không có khả năng tự vệ nhất!

Khi an táng cho lão Bản xong xuôi, Nguyễn Anh Vũ còn trở lại túp liều xiêu vẹo của lão, thẫn thờ ngồi trong đó để tưởng niệm cho nỗi dằn vặt muộn màng của mình. Bếp củi đã tàn lụi. Nồi cơm đang nấu dở thì nguội ngắt từ lúc nào. Hai bàn tay của Nguyễn Anh Vũ thầm siết chặt lại. Thời khắc ấy, y đã thề rằng dù hung thủ là ai, y cũng khiến hắn phải trả một cái giá thật đắt.

Rồi Nguyễn Anh Vũ chợt nhớ lại một chuyện. Rằng không lâu trước đó, y đã nhắc đến lão Bản với Lê Tư Thành!

Giông bão cứ cuồn cuộn nổi lên khiến nhân tình thế thái như quay cuồng. Cổng thành bị phong tỏa, quân lính tuần tra được tăng cường gấp đôi, từng hộ dân đều bị khám xét, thế nhưng kẻ thủ ác vẫn biến mất như chưa từng tồn tại.

Huyên đến thăm Từ Trọng Sinh ngay khi vừa biết tin dữ.

Sắc mặt của người nằm trên giường trắng bệch, đầu môi tím tái, vết thương ở cánh tay tuy đã được các thái y băng bó lại nhưng máu vẫn rỉ ra ngoài, loang thành một vệt đỏ thẫm. Từ Trọng Sinh vẫn đang mê man bất tỉnh. Hơi thở là điều duy nhất để Huyên biết rằng y vẫn còn sống, cho dù nó yếu ớt như sắp đứt tới nơi.

Từ Trọng Sinh, kẻ luôn cần mẫn cứu người, cuối cùng cũng bị người khác hại đến thảm thương.

Thái y Dương Viễn theo chân Huyên ra phòng ngoài. Khi được nàng hỏi về tình hình của Từ Trọng Sinh thì hắn thành thật đáp:

“Vết thương của Từ thái y tuy không hiểm nhưng khá sâu. Vi thần chắc chắn sẽ cứu mạng được cho ngài ấy, nhưng…”

Sự ngập ngừng của Dương Viễn khiến lòng Huyên dâng lên dự cảm không lành. Nàng gặn hỏi thì hắn thành thật đáp:

“Chỉ e là sau này cánh tay phải của ngài ấy không thể cử động linh hoạt như trước nữa.”

Huyên phải hít một hơi dài để giữ cho bản thân mình bình tĩnh lại. Thực ra khi vừa nhìn thấy thương thế của Từ Trọng Sinh, nàng cũng lường trươc được nguy cơ này. Lão Bản đã mất, nàng không muốn Từ Trọng Sinh cũng xảy ra chuyện.

Nàng nói với Dương Viễn:

“Tất cả đều nhờ vào thái y viện các ngài.”

“Lệnh bà nặng lời rồi.” Dương Viễn vội vã cúi đầu. “Đây là bổn phận của vi thần.”

Huyên gật đầu với Dương Viễn rồi lặng lẽ trở về Nhữ Hiên các. Nguyệt Hằng theo chân nàng, tuy không nói gì nhưng cũng không giấu nổi sự lo lắng từ tận sâu trong đáy mắt.

Lân quận công Đinh Liệt không hiểu vì sao hoàng thượng lại huy động quan binh để điều tra về cái chết của một dân thường ở làng Đan Xá, nhưng vì phận làm tôi nên ông cũng không dám hỏi nhiều. Ván cờ nhanh chóng tàn cuộc bởi cả hai người chơi đều chẳng đặt tâm tư vào nó.

Lúc đang định đứng dậy xin lui thì Đinh Liệt đột nhiên nghe thấy chất giọng trầm khàn quen thuộc:

“Trẫm biết khanh có chuyện muốn hỏi. Khanh nói đi, kẻo lại uổng công đến đây chơi cờ với trẫm.”

Vì đã quá quen với phong thái lơ đãng chết người này của đế vương nên Đinh Liệt không ngần ngại thú nhận:

“Thần nghe nói… bệ hạ thu nhận tên sứ thần nhà Minh năm đó?”

Tư Thành vẫn lơ đãng gật đầu.

“Bệ hạ…” Đinh Liệt ôm quyền quỳ rạp xuống đất. “Họ Thạch đó từng có dã tâm với Đại Việt. Chúng ta tha không giết hắn đã là từ bi rồi, không thể để hắn ở bên cạnh chúng ta được. Như thế quá nguy hiểm!”

Tư Thành dùng hai ngón tay kẹp một quân cờ lên, ngắm nghía hồi lâu rồi từ từ hạ xuống giữa bàn cờ hỗn độn. Hắn nói mà không hề nhìn qua vị lão thần đáng kính.

“Khanh đứng lên đi!”

 Đinh Liệt vẫn khăng khăng quỳ bên dưới.

“Trẫm hiểu sự lo lắng của khanh. Thạch Bưu đúng từng là kẻ thù của Đại Việt. Nhưng khanh đã quên mất một điều quan trọng hơn… Kẻ thù hiện tại của hắn là đại Minh.”

“Bệ hạ không sợ đây là mưu kế của vua tôi đại Minh sao?”

“Nếu khanh chỉ là một thần tử, việc thôn tính một nước khác không đáng để khanh hi sinh cả gia tộc của mình.”

Bấy giờ Đinh Liệt mới lật đật đứng dậy. Càng ngày, ông càng cảm thấy mình không theo kịp suy tính của vị vua trẻ tuổi trước mặt.

Tư Thành trầm lặng nhìn về phía xa và mơ hồ hoài niệm về một điều gì đó của dĩ vãng:

“Tháng tám năm nay là lần giỗ thứ hai mươi của Ức Trai tiên sinh rồi phải không?”

Đinh Liệt hơi lặng người khi Tư Thành gọi cố nhân là tiên sinh. Sau khi định thần lại, ông kính cẩn khom lưng nói:

“Bệ hạ nhớ không sai đâu ạ. Nghịch thần giết vua ấy đã chết được tròn hai mươi năm rồi.”

“Khanh cũng cho rằng tiên sinh là hung thủ giết phụ hoàng của trẫm?”

“Án đã kết, tội đã định, chân tướng không nằm ở chuyện vi thần tin hay không tin.”

Né tránh trả lời vua là một tội bất kính. Nhưng Tư Thành không giận mà chỉ khoát tay bảo Đinh Liệt lui.

Hương trà sen quyện lẫn trong bóng tối tịch mịch.

Khi chỉ còn lại một mình, Tư Thành khẽ thở dài. Đinh Liệt nói không sai. Có rất nhiều người trong triều đến nay vẫn không tin Nguyễn Trãi là hung thủ giết vua, nhưng bản án đã được định, nhân chứng khi xưa không còn, nếu muốn lật lại nó thì không thể chỉ dựa vào lòng tin. Ngày Nguyễn Anh Vũ tiết lộ về sự tồn tại của lão Bản, Tư Thành quyết định sẽ cho mời lão vào cung để hỏi chuyện, ai ngờ chưa kịp gặp mặt thì người đã không còn…

Tư Thành kể cho Huyên nghe chuyện của lão Bản. Khi ấy nàng đang ngồi bón cháo cho cậu bé Tranh. Rõ ràng Huyên đã chững lại một giây, nhưng rất nhanh sau đó, nàng bình tĩnh nói:

“Theo lời anh Anh Vũ kể thì ông ấy là một người rất tốt bụng và yếu ớt.”

Vì tốt bụng nên mới tận lực với chủ cũ. Vì yếu ớt nên mới dễ dàng bị người ta sát hại.

Tư Thành không nói gì. Thực ra hắn đang cảm thấy rất khó chịu. Bản thân bị hạ độc, kẻ thù ẩn náu trong bóng tối, âm mưu quỷ kế bủa vây trùng trùng… tất cả những điều ấy không khiến hắn khó chịu bằng một sự bưng bít của Huyên.

Tại sao phải giả vờ rằng nàng không quen lão Bản? 

Rốt cuộc thì mối quan hệ giữa nàng và Nguyễn Anh Vũ thực chất là gì?

Giọng nói của Huyên lại vang lên, vô tình cắt đứt mạch suy nghĩ của Tư Thành:

“Từ Trọng Sinh có nguy cơ không dùng được một cánh tay nữa. Là hung thủ muốn ngăn cản việc giải kỳ độc đây mà.”

Việc dùng ngân châm chích máu đòi hỏi phải thật tỉ mỉ, hơn nữa còn tác động đến các huyệt đạo trọng yếu. Nếu Từ Trọng Sinh bị tật một cánh tay thì e rằng sau này y không thể cứu người khỏi kỳ độc được nữa.

Tư Thành đáp:

“Cũng chưa chắc thứ ở trong người trẫm đã là kỳ độc.”

“Tự nhiên thiếp thấy rất lo. Kẻ ám sát Từ Trọng Sinh nhiều khả năng có liên quan tới cái chết của lão Bản. Huống hồ, anh Anh Vũ vừa tiết lộ về lão Bản với chúng ta thì ông ấy gặp nạn. Mọi chuyện chẳng phải quá trùng hợp sao?”

“Nếu Nguyễn Anh Vũ biết dùng cái đầu để suy nghĩ thì hắn sẽ hiểu rằng cái chết của lão Bản không liên quan tới trẫm!”

Tư Thành cưng nựng con trai một lúc rồi đưa cậu bé lại cho Huyên. Đã rất lâu rồi mới có một lần hắn tới Nhữ Hiên các nhưng không nghỉ lại ở đây. Và Huyên cũng không giữ hắn lại. Cảm giác áy náy khiến nàng không muốn đối diện với hắn.

Nơi Tư Thành dừng chân tối hôm ấy là Lãm Nguyệt cư của Nguyễn Nhã Liên.

Việc hoàng thượng nghỉ ở Lãm Nguyệt cư sáu ngày liên tiếp khiến người ta bắt đầu đồn đoán về tương lai xán lạn của Nguyễn Nhã Liên, còn ở trong Lãm Nguyệt cư, nhân vật chính lại chẳng buồn để tâm những chuyện mà thiên hạ thêu dệt. Con của Phùng Diệm Quỳnh đã đến tuổi tập đi. Nguyễn Nhã Liên có nhiều chuyện thực tế hơn để làm.

Thấy cung nữ Lan Hương có vẻ như bị dồn nén lắm, Nguyễn Nhã Liên không hài lòng gọi nàng ta lại:

“Ngươi cũng cho rằng ta nên nhân cơ hội này để tranh giành thánh sủng với Nguyễn sung nghi?”

Người bên ngoài đều nói như thế. Lan Hương cười cười rồi gật đầu đầy mong đợi.

Nào ngờ Nguyễn Nhã Liên nghiêm mặt lại rồi giơ tay lên, không ngần ngại cho cung nữ thân tín nhất một cái bạt tai. Lan Hương ngã ra phía sau, hoảng hốt nhìn Nguyễn Nhã Liên với ánh mắt không tin nổi.

“Uổng công ngươi hầu hạ ta bao năm mà còn dám xui ta đi tranh ân sủng! Lan Hương, ngươi nghĩ ta cũng nhỏ mọn như những gì đám người ngoài kia nói hay sao?”

Lan Hương cuống quýt lắc đầu, thực ra trong lòng đang thầm nghĩ chủ nhân mình là kẻ không biết lựa thời thế.

Nguyễn Nhã Liên lạnh lùng cười. Sao nàng ta không biết Lan Hương đã nghĩ gì. Kẻ biết lựa thời thế có thể tiến xa thật đó, nhưng để tiến xa mà đánh mất bản thân, đánh mất sự tín nhiệm của Tư Thành thì Nguyễn Nhã Liên không cần!

“Ngươi đi đi!” Nguyễn Nhã Liên nói Lan Hương. “Đi tìm một chủ nhân có tương lai, biết lựa thời lựa thế mà giúp sức. Đừng tốn thời gian ở bên một kẻ an phận thủ thường như ta nữa.”

Lan Hương khóc mếu xin tha tội nhưng vô ích. Thường ngày Nguyễn Nhã Liên rất ôn hòa, nhưng một khi nàng ta đã hạ quyết tâm đuổi người thì không ai có thể ngăn nổi.

Giữ lại kẻ không an phận bên mình, sớm muộn gì cũng thành mầm mống tai họa…

Chiều ngày hôm ấy, có cung nữ vô ý chạm mặt hoàng thượng ở Đồng Cúc đài. Kịch bản trượt chân ngã được diễn lại khá vụng về. Nghe nói cung nữ ấy muốn học theo Hạ chiêu dung của ba năm trước, mong quân vương thương hoa tiếc ngọc mà một bước thành tiên. Tư Thành quả thực đã thương hoa tiếc ngọc khi sai người đỡ nàng ta dậy, nhưng chắc vì nhan sắc của nàng ta quá tầm thường, hoặc cách biểu thị mục đích quá lộ liễu nên thay vì áo gấm kiệu hoa, thứ đáp lại nàng ta lại là mấy lời lạnh nhạt của đương kim hoàng thượng:

“Trẫm thấy Liên tiệp dư chỉ đuổi ngươi đi là quá nhân đức rồi. Trong cung không cần giữ lại loại người có tư tưởng quá phận, ngươi hiểu chứ?”

 Cuộc đời của Lan Hương cứ theo bốn chữ “không cần giữ lại” đó mà biến mất như thế.

Giông bão chưa kịp nổi lên thì đã bị nhấn chìm giữa biển khơi trùng điệp. Trịnh Minh Nguyệt đã chết, Hạ Diệp Dương mòn mỏi ở nơi biệt giam, Lê Tuyên Kiều đủ tỉnh táo để không mạo hiểm vuốt râu rồng. Không có kẻ đi gây sự, hậu cung bây giờ bình lặng đến mức khiến người ta cảm thấy không quen.

Cánh cửa lớn chầm chậm mở ra. Bóng tối án ngữ lâu ngày cũng loãng dần theo những tia sáng lạnh lẽo từ bên ngoài chiếu vào. Nhưng bên trong không có sự hiện diện đặc trưng của bụi hay ẩm mốc. Mọi thứ sạch sẽ như vẫn được lau chùi thường xuyên. Thậm chí ở đâu đó còn tỏa ra hương hoa dìu dịu, khiến người không hiểu chuyện dễ lầm tưởng rằng đây không phải là nơi biệt giam một phi tần.

Mạc Viên Nhiên thoáng trông thấy bóng người mặc áo xanh đang bận rộn ở cuối căn phòng. Có lẽ Hạ Diệp Dương dành toàn bộ thời gian bị biệt giam chỉ để vẽ tranh. Khắp gian phòng treo đầy tranh thủy mặc. Hạ Diệp Dương cũng nhận ra có người tới nhưng không có phản ứng gì. Nàng ta còn đang mải treo bức tranh mới khô mực lên trên giá.

Mạc Viên Nhiên đảo mắt qua những bức tranh rồi lơ đãng cảm thán:

“Thú vui thanh cảnh thật…”

Điều kì lạ là Hạ Diệp Dương không những không nổi điên mà còn rất lịch sự đáp lời Mạc Viên Nhiên:

“Vì chơi đàn thì không hợp lí với một kẻ đang bị giam cầm cho lắm nên chỉ đành vẽ tranh để giải sầu thôi.” Rồi nàng ta bỗng ngừng lại và ngó ra phía bên ngoài. “Mà chị đến đây làm gì?”

Đến đây làm gì? Thường thì người ta sẽ hỏi câu này vì hai lí do: hoặc là bực bội vì bị quấy nhiễu, hoặc là lo lắng trước sự hiện diện của đối phương.

Mạc Viên Nhiên lạnh giọng đáp:

“Lính canh bên ngoài đang đổi ca, mà Nguyễn sung nghi thì có nhiều chuyện đáng để bận tâm hơn so với chuyện ta đến Thanh Phục khu bao lâu thì trở về.”

Ánh mắt của Hạ Diệp Dương vẫn rất ôn hòa. So với lúc nàng ta tìm Mạc Viên Nhiên để gây sự thì thái độ này quả thực khác biệt một trời một vực. Nhẫn nại, ấm áp, lại tàng ẩn chút gì đó tha thiết chỉ thuộc về thân tình máu mủ…

Và rồi, nàng ta ấm ức nói:

“Em đâm chị một nhát thì chị cũng kéo em ra hứng dao của Trịnh Minh Nguyệt. Chị mang tiếng vào cung hại vua thì em cũng chuốc lấy danh vu oan thái tử. Hai chúng ta hòa nhau rồi, cùng lắm thì em nợ chị một cái tát thôi, làm gì mà chị thù dai thế!”

Việc Hạ Diệp Dương cứ nhìn mình chăm chú khiến Mạc Viên Nhiên không tiếp tục làm mặt lạnh được nữa. Nụ cười trên môi mỹ nhân bật ra thành tiếng. Diệp Dương à Diệp Dương, cô em gái này của nàng ta đúng là rất biết cách tính toán sòng phẳng mà!

Chú thích:

(1) Khắc: Đơn vị đo thời gian xưa. Một khắc bằng một phần tư giờ.

(2) Cảnh Thái hoàng đế: Tức Minh Đại Tông, vị vua thứ bảy của nhà Minh, lên ngôi sau khi anh trai (tức vua Minh Anh Tông) bị quân Mông Cổ cầm tù. Sau ông bị anh trai giáng làm Thành vương.

(3) Thiên Thuận hoàng đế: Tức Minh Anh Tông, vị vua thứ sáu và thứ tám của nhà Minh, anh trai của Minh Đại Tông. Chuyện về hai anh em Thiên Thuận – Cảnh Thái đã được nhắc đến trong sự kiện Sứ thần nhà Minh ở quyển I.

< Chương trước Chương sau >
Ánh Tuyết Triều Dương

Tạo ngày 22/03/2017, Cập nhật ngày 04/12/2017

7

awesome

0

nice

10

loved!

0

lol!

0

funny

3

fail!

0

omg

0

ew

Chấm điểm bài viết

1

2

3

4

5

Kết nối với vinote