Chương 81. Kí ức năm ấy

59bbce6e736ed.jpg

Kí ức của Tư Thành bắt đầu bằng những ngày tháng tĩnh lặng nơi cửa phật. Năm ấy hắn còn quá nhỏ để hiểu những ân oán của hoàng tộc. Hắn chỉ nhớ hai mẹ con sống trong một gian nhà nhỏ ở mé sau của nhà chùa, ngăn cách với thế giới bên ngoài bằng những phật viện và một khoảng sân trống trải. Các sư thầy trong chùa rất quý mẹ con hắn. Mấy chú tiểu trong chùa cũng thích chơi với cậu bé Tư Thành. Vào những chiều hè nóng nực, mẹ lại dắt Tư Thành ra gốc đa hóng mát hoặc ngâm nga vài câu dân ca cho những chú tiểu cùng nghe, và những lúc như thế, Tư Thành luôn tỏ ra là một đứa trẻ sáng dạ. Bài nào mẹ từng hát trước đó một lần thì sau này cậu đều có thể ê a đọc theo. Thậm chí sư thầy trụ trì cũng nhắn nhủ rằng đợi Tư Thành lớn lên một chút nữa, ông sẽ nhận cậu làm đệ tử tục gia. Lúc ấy Tư Thành không hiểu làm đệ tử của sư thầy thì có gì hay, nhưng thấy mẹ cười hiền nên cậu cũng thích thú mong đợi.

Nhưng rốt cuộc vị sư trụ trì đáng kính đó vẫn không có cậu đệ tử tục gia nào tên là Lê Tư Thành. Vương triều phải tìm lại huyết mạch đang lưu lạc. Một chốn hương khói thanh nhàn sao có thể chứa mãi kẻ mang trong mình dòng dõi chí tôn. Ngày quan binh mang theo kiệu lớn dừng trước cửa Dục Khánh tự, định mệnh của cậu bé bốn tuổi đó mới thực sự bắt đầu!

Tư Thành cùng mẹ trở lại hoàng cung trong cảm giác lạ lẫm nhưng không rụt rè. Chẳng hiểu sao, một cậu bé chưa từng đặt chân ra khỏi ngôi chùa nhỏ, cũng chưa từng được ai chỉ dạy, lại có thể bình tĩnh quỳ gối chào người phụ nữ quyền uy nhất Đại Việt ngay trong lần đầu gặp mặt. Sự lễ độ của Tư Thành khiến Tuyên Từ thái hậu bất đắc dĩ giũ bỏ thành kiến về đứa trẻ lưu lạc quê mùa. Tư Thành được phong làm Bình Nguyên vương, và khi đủ tuổi thì cậu cũng được đi học ở Kinh Diên như những người anh khác. Nhưng không giống vua Nhân Tông luôn đĩnh đạc nghiêm trang, không giống Nghi Dân trầm tư nhút nhát, càng không giống Khắc Xương tài hoa nổi trội, Tư Thành luôn giữ chừng mực trong mọi việc. Khi học, cậu không tỏ ra nổi trội nhất nhưng cũng quyết không làm kẻ thua kém nhất. Khi chơi, cậu không phải người khởi xướng những trò nghịch ngợm nhưng không bao giờ đứng ngoài cuộc vui. Dần dần, ấn tượng của Tuyên Từ thái hậu dành cho cậu tứ hoàng tử này cũng thay đổi, từ thờ ơ đến để tâm, thậm chí còn có chút gì đó yêu thích. Chẳng ai lại không yêu thích một đứa trẻ ngoan, nhất là khi đứa trẻ đó lớn lên có tài có đức, có thể trợ giúp cho nghiệp lớn của con trai mình.

Nhưng mộng đẹp của Tuyên Từ thái hậu đã không thể kéo dài mãi.

Tháng mười năm Diên Ninh thứ 6 (tức năm Kỷ Mão 1459), Lê Nghi Dân, vị phế thái tử luôn phải vờ sống nhút nhát dưới tầm mắt thái hậu, đột ngột dấy lên mưa máu chốn hoàng triều. Vua Nhân Tông và Tuyên Từ thái hậu đều bị sát hại. Kẻ chiến thắng hả hê đòi lại những thứ đã đánh mất. Cung vương Khắc Xương trước giờ luôn sống vui vẻ thì nay vì cơn binh biến ấy mà vội vã thu mình. Còn Tư Thành? Chẳng điều gì có thể dao động vị Bình Nguyên vương không màng tới thời cuộc ấy. Họa chăng, chỉ là cậu có thêm một người anh nữa ngồi lên ngôi báu mà thôi.

Tuy Nghi Dân đích thị là con trưởng của tiên hoàng nhưng hành vi giết em trai, giết thái hậu để cướp ngôi lại trái với lòng người, đi ngược lại đạo lí trong thiên hạ, nhất là khi người mà cậu ta vừa sát hại lại là một vị vua rất tốt. Dục tốt thường bất đạt, Nghi Dân nóng nảy khởi đầu niên hiệu Thiên Hưng mà đã vô tình bỏ qua hai thứ quan trọng nhất: nền móng chính quyền và sự ủng hộ của muôn dân. Nhìn ngay trước mắt không có người tin phục, dõi ra xa không có kẻ đồng lòng, Nghi Dân thất bại cũng là điều dễ hiểu. Chỉ tám tháng sau khi vua Nhân Tông bị sát hại, một cuộc binh biến khác lại diễn ra, Thiên Hưng đế bị các trọng thần triều đình đồng loạt phế bỏ, giáng xuống làm Lệ Đức hầu. Số mệnh của kẻ đoạt ngôi nhanh chóng kết thúc bởi một dải lụa trắng.

Bốn vị hoàng tử của vua Thái Tông đều là nhân tài xuất chúng. Nhưng sau cuộc tranh đoạt ngai vàng đầy tàn khốc, người có thể kế thừa giang sơn chỉ còn lại Cung vương Khắc Xương và Gia vương Tư Thành. Ban đầu các đại thần muốn chọn Khắc Xương vì những biểu hiện nổi trội của cậu thời niên thiếu, nhưng hệt như có ma xui quỷ khiến, Lê Lăng càng mời thì Khắc Xương càng lánh đi. Cậu thiếu niên phóng khoáng nổi trội ngày nào giờ trầm lặng đến mức người khác chẳng nhận ra. Sự thay đổi của Khắc Xương khiến người ta không khỏi nghi ngờ. Có người nói rằng đó mới là bản tính thực sự của Cung vương. Có người lại hoang mang cho rằng Cung vương làm như vậy là do đã chán ngán chuyện anh em tương tàn. Còn lí do thực sự thì e rằng chỉ người trong cuộc mới hiểu.

Gia Vương Lê Tư Thành được nhớ tới như một sự lựa chọn cuối cùng, nhưng lại là sự lựa chọn hoàn hảo nhất (*). Cứ như thế, vị thân vương thường ngày chỉ thích vui vầy với sách vở, dửng dưng trước thế sự triều chính, đã đường hoàng bước lên ngôi cửu ngũ chí tôn và mở ra một thời kì thịnh thế của lịch sử Đại Việt. Và cũng vì Tư Thành đã chứng tỏ mình là một vị vua rất xuất sắc nên người ta dần quên đi một Cung vương trước sau bất nhất, thậm chí khi người đó không còn tồn tại nữa, triều đình cũng chẳng dám làm phật ý hoàng thượng mà truy cứu sâu thêm.

Đó là một năm đầy biến động của hoàng tộc họ Lê. Vua Thái Tông có bốn người con tài giỏi nhưng lịch sử chỉ lựa chọn Bang Cơ và Tư Thành. Hai người còn lại, một người bị thời cuộc lãng quên, một kẻ kết thúc tất cả trong nỗi bi thống phẫn hận cả đất trời.

“Thực ra Lệ Đức hầu là đứa trẻ tội nghiệp. Ngoại trừ con ra, người mà ta thương nhất chính là nó.”

Thái hậu dừng lại câu chuyện xưa và cám cảnh thở dài. Nửa đời chứng kiến cảnh bại vong, bà bắt đầu cảm thấy sự yêu ghét cũng thật lẫn lộn. Tư Thành thì vẫn chú mục ngồi bên cạnh lắng nghe. Nhắc đến người anh cả Lê Nghi Dân, trong lòng hắn cũng có chút đồng cảm.

“Lệ Đức hầu là con trưởng của tiên đế, cũng là người được lựa chọn đầu tiên cho ngôi báu. Nếu ngày ấy tiên đế không quá sủng ái Thần phi thì có lẽ bây giờ mọi chuyện đã khác. Thằng bé đó không bị mất ngôi thái tử thì sẽ không ôm hận, anh em các con cũng không đến nỗi tương tàn như thế.”

Đã bao năm trôi qua, thái hậu vẫn quen nếp cũ, gọi Tuyên Từ thái hậu là Thần phi, giống như ngày hai người họ còn chung phận phi tử trong hậu cung của tiên hoàng.

“Con nghe nói anh cả còn bất mãn vì huyết thống của anh Nhân Tông?”

Thái hậu nghiêm khắc nhìn Tư Thành:

“Con cũng không tin vào điều ấy mà, phải không?”

Tư Thành gật đầu thừa nhận. Tiên đế không phải người si tình đến mức quên cả giang sơn. Dẫu ngài ấy có sủng ái Tuyên Từ thái hậu đến đâu thì cũng không bao giờ mù quáng trao nghiệp lớn của nhà họ Lê vào tay kẻ ngoại tộc. Đối với đế vương, đó là sự sỉ nhục lớn nhất. Và cũng không có khả năng ngài ấy mờ mịt về huyết thống của Bang Cơ. Thiên tử nhận con không thể hồ đồ. Nói cách khác, Bang Cơ được trao ngôi thái tử vì cậu ấy đích thị là huyết mạch của hoàng thất. Chỉ uổng cho Nghi Dân, bị kẻ khác kích động mà vội vã tin vào lời đồn thổi, không kịp suy xét trắng đen, cuối cùng phải đổi lấy kết cục thống hận thiên thu.

Tư Thành bóp vai cho thái hậu và kiên nhẫn hỏi:

“Nhưng mẫu hậu à, không có lửa thì sẽ không có khói. Con tin rằng Tuyên Từ thái hậu đã che giấu hoàng thất một bí mật nào đó. Cũng vì mẫu hậu biết được bí mật này nên mới bị bà ấy tìm cách đuổi khỏi cung phải không?”

Thái hậu từ từ nhắm mắt lại. Rốt cuộc, kí ức vẫn là thứ duy nhất mà con người ta không thể xóa bỏ vĩnh viễn.

Năm ấy vua Thái Tông vẫn còn rất trẻ tuổi và đa tình. Mỹ nhân hậu cung như hoa như ngọc. Sau khi Nguyên phi và Huệ phi bị phế bỏ do là con gái của tội thần thì Dương phi trở thành người được sủng ái nhất. Người con trai do bà ta sinh ra, tức hoàng tử trưởng Lê Nghi Dân, chưa đầy một tuổi đã được phong làm thái tử, tiền đồ xán lạn vô cùng. Bản thân và con trai đều có địa vị, Dương phi ở trong hậu cung chẳng khác nào mặt trời ban trưa, còn những phi tần khác chỉ là phận cỏ cây dưới chân, không đáng kể tới. Nhưng mặt trời dù có chói sáng đến đâu thì cũng có lúc phải lặng lẽ nhường lối cho trăng. Người đời sau thường truyền tai nhau về sự thất sủng đột ngột của Dương phi, mà lí do được họ tin tưởng nhất chính là bà ta ỷ sủng ái nên sinh thói kiêu ngạo, không biết giữ lễ độ, khiến vua Thái Tông dần chán ghét. Âu đó cũng là lí do thích hợp để phế bỏ mẹ đẻ của thái tử, nhưng thái hậu thì đủ nhạy cảm để hiểu được nội tình sâu xa hơn.

“Kiêu ngạo hống hách không phải là bản tính của Dương phi. Nếu bà ấy kiêu ngạo thì đã chẳng được tiên đế để mắt tới. Ngược lại, Dương phi là người rất hiền lành và lương thiện. Khi bà ấy đứng đầu hậu cung thì chúng ta đều được sống rất yên ổn. Bà ấy chỉ có một điểm yếu duy nhất, cũng là điều khiến bà ấy trắng tay trước Thần phi, đó là bà ấy yêu tiên đế thật lòng.”

Tư Thành chợt nhớ lại một chuyện từ lâu lắm rồi, ngày ấy hắn mới được đón về cung, do không quen đường nên trót đi lạc đến một khu nhà bị bỏ hoang. Giữa nền nhà ngổn ngang bụi đất, hắn vô tình nhặt được một chiếc khăn tay nhàu nhụa và bẩn thỉu, tuy nhiên dòng chữ được thêu tỉ mỉ ở góc trái thì hắn không thể nào nhận nhầm được.

Nguyên Long…

Nguyên Long là tên húy của tiên đế. Nhưng đó cũng là cái tên bị cấm kị gọi thẳng đối với tất cả mọi người. Trừ khi thích chết, còn không, ai dám thêu tên húy của hoàng thượng trên chiếc khăn tay mang bên mình? Khi trở về, Tư Thành dò hỏi thì mới biết khu nhà đó từng thuộc về một phế phi họ Dương. Cũng không rõ vì giận chuyện Tư Thành đi lạc hay vì lí do nào khác mà chỉ mấy ngày sau, Tuyên Từ thái hậu liền sai người dỡ bỏ khu nhà đó để xây một vườn hoa. Từ đó đến nay, trong hậu cung đã không còn bất kì dấu tích nào của Dương phi nữa.

“Vì Dương phi quá yêu tiên đế nên khi ngài ấy đón Thần phi về, bà ấy mới không chịu nổi. Phụ nữ mà, có yêu thì mới ghen, huống hồ khi ấy Thần phi đã mang thai gần ba tháng. Tất cả những điều đó khiến Dương phi rất hụt hẫng. Bà ấy đã tìm đến chất vấn tiên đế ngay ngày hôm ấy. Mọi người biết chuyện thì đều nói rằng bà ấy không biết an phận, thậm chí phê phán bà ấy quá ngông cuồng khi đòi hỏi sự chung thủy của đế vương. Nhưng ta biết Dương phi chưa bao giờ là người như thế. Có lẽ bà ấy đủ khôn ngoan để biết rằng nếu nhắm mắt làm ngơ thì sẽ bảo toàn được địa vị. Nhưng cuối cùng, Dương phi vẫn lựa chọn đi ngược lại lợi ích của mình, bởi vì đối với bà ấy, còn có một thứ quan trọng hơn tiền đồ của bản thân…”

“Là tự trọng, cũng là tình cảm mà bà ấy dành cho phụ hoàng.”

Thái hậu buồn bã gật đầu:

“Nếu tiên đế quá sủng ái Thần phi thì Dương phi cũng không phản ứng quyết liệt như thế. Lúc bà ấy bị giáng xuống thành Chiêu nghi, ta đã có dự cảm không lành và khuyên bà ấy nên nhượng bộ, nhưng bà ấy chỉ nói rằng bà ấy sẽ không bao giờ nhượng bộ trước một người như Thần phi. Ngẫm lại đúng là oan nghiệt. Lẽ ra người như Dương phi không nên vào trong hậu cung thì tốt hơn…”

Tư Thành có thể đồng cảm với Dương phi, nhưng hắn không bao giờ đồng tình với cách bà ấy đánh mất tiền đồ của con trai mình. Nếu so về việc hoàn thành trọng trách của một người mẹ thì Dương phi còn kém Tuyên Từ thái hậu nhiều lắm!

Dường như thái hậu biết Tư Thành đang nghĩ gì. Bà nhẹ nhàng đặt tay lên vai, nắm lấy tay Tư Thành rồi kéo con trai ngồi xuống cạnh mình.

“Điều mà ta lo lắng cuối cùng cũng xảy ra. Đứa trẻ tội nghiệp bị ép rời xa khỏi vòng tay của mẹ nó khi còn quá nhỏ. Trước khi Dương phi bị đuổi ra khỏi cung, ta đã hứa với bà ấy rằng sẽ chăm sóc cho Lệ Đức hầu thật tốt, chỉ là lúc ấy ta không biết rồi bản thân mình cũng gặp đại họa, chẳng thể thực hiện lời hứa với cố nhân.”

Dương phi bị phế, ngôi thái tử của Nghi Dân tất nhiên không giữ được, quyền lực trong hậu cung dần chuyển sang tay Tuyên Từ thái hậu. Khi Bang Cơ chào đời thì ngôi thái tử Đại Việt chính thức có chủ mới. Vị thế của Tuyên Từ thái hậu đã hơn hẳn Dương phi năm xưa. Với vị thế đó, lẽ ra bà ấy không cần lo lắng khi một Ngô tiệp dư nhỏ bé mang thai, càng không nhất thiết phải tìm cách đuổi cùng giết tận. Nguy cơ có kẻ tranh giành hoàng vị chỉ là cái cớ. Nỗi lo sợ thực sự của Tuyên Từ thái hậu lại thuộc về nơi khác.

“Con biết… tuy anh Nhân Tông là con trai của Tuyên Từ thái hậu và tiên đế, nhưng lại không phải là người con duy nhất của bà ấy.”

Thực ra Tư Thành vẫn luôn âm thầm cho người điều tra chuyện năm xưa. Ba năm trước hắn xuất cung, giải quyết việc Chiêm Thành quấy nhiễu chỉ là chuyện nhỏ, thậm chí Phùng Diệm Quỳnh giả điên giả dại cũng không thể giữ chân hắn được lâu. Mục đích thực sự của Tư Thành là xác minh lại một số lời đồn đại trôi nổi trong dân gian. Trong chuyến vi hành ấy, Tư Thành đã tìm được con trai Nguyễn Trãi, nhưng linh cảm lại cho hắn thấy rằng người phụ nữ bên cạnh Nguyễn Anh Vũ cũng thú vị không kém. Hắn để tâm đến Mạc Viên Nhiên nhiều hơn một chút, cuối cùng mới phát hiện ra mối liên hệ giữa nàng ta với một người trong quá khứ…

“Đến bây giờ ta cũng không rõ chuyện đó là đúng hay sai.” Thái hậu lại thở dài. “Nhưng ta không cho rằng Dương phi căm hận Thần phi đến mức rắp tâm đổi trắng thay đen. Như con vừa nói rồi đó, phải có lửa mới có khói. Huyết thống của Nhân Tông thực sự không có vấn đề. Vấn đề nằm ở quá khứ của Thần phi.”

Thái hậu ngừng lại một lúc rồi nói tiếp:

“Người duy nhất ta tin tưởng và kể lại chuyện này là vợ chồng Tiên sinh. Sau khi Dương phi chết, chúng ta bắt đầu điều tra cử người đi điều tra, không ngờ chính điều đấy đã làm liên lụy đến gia đình Tiên sinh. Vì ta hay gặp gỡ Dương phi nên Thần phi sinh lòng úy kị. Bà ấy đẩy ta ra khỏi hoàng cung, ép chết vợ chồng Tiên sinh, thậm chí… cái chết của tiên đế cũng có thể liên quan tới bà ấy.”

“Tên của người đàn ông đó có phải có một chữ Nguyên không ạ?”

Thái hậu không ngạc nhiên khi Tư Thành có thể hỏi như vậy. Bà hiểu người con trai này của mình. Nếu Tư Thành kiên nhẫn ngồi đây nghe chuyện thì tức là trong lòng hắn đã tự có đáp án.

“Là Lê Nguyên Sơn.”

Không phải Lưu Tích Nguyên. Mà là Lê Nguyên Sơn.

Ba người có ảnh hưởng tới cuộc đời của Tuyên Từ thái hậu đều có chữ Nguyên trong tên gọi: vua Thái Tông Lê Nguyên Long, Lưu Tích Nguyên và người cuối cùng là Lê Nguyên Sơn. Chị em Mạc Viên Nhiên không thể là con của vua Thái Tông. Và cũng không có người cha nào lại nhẫn tâm lợi dụng chính con gái ruột của mình để trả thù.

Chung quy, chỉ còn lại Lê Nguyên Sơn.

Lê Nguyên Sơn là một quý tộc có tiếng thời bấy giờ. Ông ta đã kiên trì theo đuổi cô thiếu nữ Nguyễn Thị Anh trước khi nàng nhập cung. Không rõ tình cảm của hai người họ sâu đậm đến mức nào, Lê Nguyên Sơn đã có được trái tim của người đẹp hay chưa, chỉ biết rằng khi Nguyễn Thị Anh được vua Thái Tông để ý thì Lê Nguyên Sơn đã rất thức thời lảng tránh, cuối cùng lựa chọn mai danh ẩn tích, không xuất hiện ở kinh thành nữa. Nhưng đó chưa phải kết thúc. Nói chính xác hơn thì nó là sự khởi đầu. Bởi vì khi rời khỏi kinh thành, Lê Nguyên Sơn đã đem theo hai đứa trẻ, những người mà sau này vợ chồng Nguyễn Trãi đều tin rằng chính là con của ông ta và Tuyên Từ thái hậu Nguyễn Thị Anh.

“Dương phi tung tin đồn rằng Nhân Tông không phải con đẻ của tiên đế, để ngài ấy nghi ngờ và điều tra lại quá khứ của Thần phi. Nhưng ta lại cho rằng chưa chắc tiên đế đã không biết. Ngài ấy rộng lượng vì ngài ấy thực lòng yêu Thần phi. Ngài ấy dễ dàng bỏ qua cho Lê Nguyên Sơn vì ngài ấy biết mình là người đến sau. Nói cho cùng, Thần phi thắng vì bà ấy có được tình yêu của đế vương, còn Dương phi thua vì bà ấy đã yêu đế vương quá thật lòng.”

Tư Thành ngậm ngùi mường tượng lại cảnh hậu cung của hai mươi năm trước, nơi có những người con gái đã lạc mất tuổi xuân chỉ vì tình yêu và quyền lực. Hắn không thể nói rằng hắn đồng cảm với Dương phi hơn hay khâm phục bản lĩnh của Tuyên Từ thái hậu hơn. Có những thứ tranh đấu, dù kết cục thành hay bại thì những người trong cuộc đều là kẻ mất mát. Nếu như Dương phi thua trắng tay thì Tuyên Từ thái hậu cũng phải trả giá bằng chính tình mẫu tử của mình.

“Mẫu hậu có bao giờ cho rằng còn một lí do nữa khiến phụ hoàng bỏ qua cho hai đứa trẻ ngày đó không?”

Tư Thành nhấp một chén trà rồi nói:

“Bởi vì bọn họ đều là con gái!”

Là phận đàn bà con gái, cho dù thực sự tồn tại thì cũng không thể tạo thành bất cứ sự uy hiếp nào đối với quyền lực của hoàng tộc…

Nắng nhàn nhạt in lên cửa sổ vệt sương khói. Cái rét ngọt ngào cuối đông vẫn trói buộc con người ta trong những nỗi niềm nửa hư nửa thực. Thái hậu tĩnh lặng để tâm tư lãng đãng trôi về dĩ vãng. Những linh cảm kì lạ đưa tâm trí của bà trở lại buổi gặp gỡ trên tường thành hôm trước, nơi có một người con gái rất an phận đứng đằng sau hoàng thượng và Nguyễn sung nghi.

Lẽ ra thái hậu phải nhớ ra một điều, rằng kẻ thường dân như Nguyễn Anh Vũ đâu có cơ hội gặp gỡ người trong cung!

“Có lẽ mẫu hậu đều thấy hai chị em họ rồi đó. Một người là phi tần trong hậu cung, một người chính là cung nữ bên cạnh Nguyễn sung nghi, tên gọi Tuệ Thảo.”

Câu nói của Tư Thành đã khẳng định những hoài nghi trong lòng thái hậu. Bà run run đáp:

“Hóa ra Tuệ Thảo chính là đứa trẻ bị bỏ rơi ngày đó. Nàng ta… nàng ta có liên quan gì tới cậu Anh Vũ không?”

Tư Thành biết thái hậu cũng xuất hiện ở Đoan môn ngày hôm đó, nhưng hắn không ngờ chỉ qua một khoảnh khắc ngắn ngủi mà bà đã nhìn ra mối liên hệ giữa Nguyễn Anh Vũ và Mạc Viên Nhiên.

“Con lại coi ta như những bà lão tóc bạc da mồi rồi!” Thái hậu lắc đầu cười buồn với Tư Thành. “Nguyễn Anh Vũ dám quát cả phi tử của vua, nhưng lại bằng lòng để cho một cung nữ đứng sánh vai cùng mình. Hướng đứng của Nguyễn Anh Vũ hôm đó cũng là hướng chắn gió lạnh cho người bên cạnh. Ngẫm ra, sự dịu dàng mà cậu ta dành cho Tuệ Thảo chẳng kém sự dịu dàng của con đối với Nguyễn sung nghi đâu.”

Tư Thành tiếc nuối đáp:

“Tuệ Thảo còn có tên khác là Mạc Viên Nhiên. Cô ấy và Nguyễn Anh Vũ vốn là một cặp uyên ương trời sinh…”

Uyên ương trời định, mỹ nhân đánh đàn, quân tử thổi sáo, giữa rừng trúc u tĩnh, đan hòa thành tiên cảnh chốn nhân gian…

Lùi lại mười mấy năm trước, mỹ nhân và quân tử chỉ là những đứa trẻ bơ vơ chốn thôn dã, bị bỏ rơi giữa đam mê quyền lực và dùng máu của gia tộc để gột tẩy tâm hồn. Không như những đứa trẻ được vô tư lớn lên trong những câu đồng dao quen thuộc, bọn họ trưởng thành bằng những lời thề. Một người khao khát đòi lại công bằng cho gia tộc. Một kẻ lại quay quắt giữa những yêu hận không thuộc về mình. Định mệnh cho bọn họ gặp gỡ nhau, chưa biết vì duyên hay do phận, nhưng nếu ai đó đã từng chứng kiến những ân oán năm xưa thì sẽ hiểu được rằng, sự tương ngộ ngày hôm nay là nghiệt ngã đến mức nào.

Con của kẻ thù lại gặp gỡ nhau. Ông trời ơi, ông đúng là khéo tạo nghiệt mà!

Vì đã đến giờ nghỉ ngơi nên Tư Thành không làm phiền thái hậu nữa. Hắn đợi tận mắt thấy Cẩm Tú bước vào chăm sóc thái hậu rồi mới kính cẩn trở ra. Nhưng hôm nay thái hậu không đi nghỉ. Bà tìm tới bàn thờ Quan Âm Bồ Tát như một cách để tâm tình dần an tĩnh lại. Nửa đời sóng gió là quá đủ rồi. Ngày hôm nay, và có thể sẽ còn rất nhiều ngày khác nữa, bà sẽ dùng tất cả thời gian và lòng thành để cầu nguyện cho những đứa con của mình được thanh thản.

Vĩnh Lạc bị cô lập, Lưu Tích Nguyên có vẻ đã chán ngán những chuyện hạ độc ám sát, vì thế nên dạo gần đây, Thanh Ngọc nhàn rỗi hẳn. Nhiệm vụ hàng ngày của nàng ta chủ yếu là tán gẫu cùng Lê Tuyên Kiều, khi nào buồn chán quá thì chạy ra khỏi cung Thọ Am để làm vài ba chuyện lặt vặt. Mọi người đều biết Thanh Ngọc giỏi võ công, hơn nữa trải qua bao nhiêu lần gây sự mà vẫn không bị định tội chết nên vừa sợ vừa nể, dù nàng ta đi đâu thì họ cũng chẳng dám có ý kiến gì. Nhưng Thanh Ngọc không vì thế mà hành động tùy tiện. Vĩnh Lạc đã căn dặn rất kĩ rằng không được coi thường sự án binh bất động của Tư Thành.

Cũng như mọi ngày, hôm nay Thanh Ngọc theo hầu Lê Tuyên Kiều tản bộ ngoài ngự hoa viên. Lê Tuyên Kiều vẫn giữ thói quen mượn cỏ cây hoa lá để ám chỉ người này, cười nhạo người kia. Ban đầu Thanh Ngọc còn nhiệt tình đỡ lời, sau thấy nhàm chán quá, nàng ta quyết định đứng lùi hẳn về phía sau, nhường lại cảnh đẹp cho Lê Tuyên Kiều tự biên tự diễn, còn bản thân thì vu vơ ngắm cảnh cho đỡ nhàm.

Và rồi, Thanh Ngọc không còn tâm trí đâu để ngắm cảnh nữa. Chỉ một giây ngắn ngủi khi đội thị vệ lướt qua trước mặt, Thanh Ngọc đã nhận ra cái kẻ mà dẫu có chết, nàng ta cũng phải mang theo hình ảnh của hắn xuống mồ!

Khi Lê Khải Triều ngoảnh đầu nhìn sang bên trái, hắn đã nhận ra kẻ mà dẫu có chết, hắn cũng phải lôi nàng ta xuống mồ cùng!

Vì bản thân đang đóng giả thị vệ nên Lê Khải Triều không tiện cười lớn, nhưng cái kiểu cố nén cười của hắn thực sự khiến Thanh Ngọc nhìn mà phát hoảng. Nhớ lại vụ phá tanh bành nhà của hắn lần trước, Thanh Ngọc chỉ kịp cười cười đáp lễ rồi lấy lí do để chuồn lẹ.

Vừa thấy Thanh Ngọc lẩn vào đám đông, Lê Khải Triều cũng lập tức đuổi theo. Hôm nay mà không bắt được cô ả trời đánh Thái Thanh Ngọc, hắn thề sẽ vác gậy về quê chăn vịt!

Thề thốt hùng hồn như thế, nhưng chỉ chưa đầy một phút sau, Lê Khải Triều đã cảm thấy viễn cảnh về quê chăn vịt đang treo lủng lẳng trên đầu.

Lê Khải Triều từng vào cung ba lần, khốn nỗi cả ba lần ấy hắn đều đến vào ban đêm, thành ra tưởng quen thuộc hoàng cung nhưng nhìn kĩ thì chẳng thấy quen chỗ nào! Hắn đuổi theo Thanh Ngọc một đoạn thì bị mất dấu. Đang định hậm hực chửi đổng rồi quay về, Lê Khải Triều chợt cảm thấy lành lạnh bên cổ. Thanh Ngọc từ đâu xuất hiện với con dao trên tay, lấy bất ngờ làm lợi thế, không chút do dự ép Lê Khải Triều lùi sát vào chân tường.

Dựa vào khả năng của Lê Khải Triều, chế ngự Thanh Ngọc và lật ngược tình thế là một chuyện quá dễ dàng, nhưng chả hiểu ma xui quỷ khiến thế nào mà tất cả những gì hắn làm chỉ là đứng ngây ra nhìn người trước mặt, nhìn đến mức khiến kẻ đang chiếm thế thượng phong là nàng ta cũng phải phát rét.

“Ngươi vào đây làm gì?” Thanh Ngọc đè giọng xuống thật thấp, cốt không để đám người Lê Tuyên Kiều đang lảng vảng gần đó nghe thấy. Nàng ta cố giấu đi sự bối rối trước ánh mắt bức người của Lê Khải Triều, tự nhủ mình phải nắm chặt con dao hơn, đề phòng tên quỷ quái này giở trò. Lê Khải Triều thì vẫn chằm chằm nhìn Thanh Ngọc. Đây là lần đầu tiên hai người họ mặt giáp mặt gần như thế, và Lê Khải Triều không thể phủ nhận, nếu Thái Thanh Ngọc bỏ được cái tính khí hung dữ kia đi thì nàng ta cũng là một thiếu nữ xinh đẹp…

Mẹ kiếp, lại nghĩ đi đâu rồi!

Thầm trấn an bản thân xong, Lê Khải Triều hơi ưỡn thẳng người dậy, khóe miệng nhếch lên rất hợp phong cách của hắn. Hắn nói một câu khiến Thanh Ngọc nghe xong mà đờ đẫn cả người:

“Nói thật nhé, ta nhớ cô quá nên mới tìm cách vào đây thăm cô.”

Ta nhớ cô quá nên mới tìm cách vào đây thăm cô…

Đến khi Thanh Ngọc nhận ra mình ngu như thế nào thì đã quá muộn. Lợi dụng một giây khi nàng ta bị phân tán tư tưởng, Lê Khải Triều liền xoay cổ tay loạt lấy con dao, nhanh như chớp đảo chủ thành khách, đồng thời ép ngược đối phương vào tường.

“Ngu thật! Nói như vậy mà cũng tin!” Lê Khải Triều đắc ý cười lớn, cười đến mức quên khuấy luôn kẻ nào vừa chêm ba chữ ”nói thật nhé” trong lời của mình. “Nhìn mặt Lê Khải Triều ta giống thằng dại gái lắm à? Mà cho dù có dại gái thật, ta cũng không bao giờ đâm đầu vào cái kẻ vừa xấu vừa ác như cô đâu, đừng có tưởng bở!”

Thanh Ngọc cắn răng không đáp. Kinh nghiệm xương máu đã chứng minh rằng cãi nhau với Lê Khải Triều chỉ tổ rước thêm nhục. Hơn nữa nơi này là hoàng cung, mà nàng ta thì chưa bao giờ quên thân phận một chân hai thuyền của mình.

Đôi khi người ta hay nhầm lẫn giữa vẻ thẹn thùng và tức giận của một người con gái. Thấy Thanh Ngọc đỏ mặt vì tức, Lê Khải Triều tưởng nàng ta đang xấu hổ nên càng nói càng hăng, cuối cùng kể ra một loạt thù cũ nợ mới, từ chuyện nàng ta đánh lén hắn trong lãnh cung, âm mưu trộm ngựa của hắn bên bờ sông Nhị Hà cho đến lần dẫn một đám người lạ mặt vào phá tanh bành nhà hắn.

Giờ phút này, Thanh Ngọc đã giác ngộ một chân lí đơn giản: dao kiếm có đáng sợ đến đâu cũng không đáng sợ bằng miệng lưỡi của Lê Khải Triều!

Có lẽ Lê Khải Triều sẽ không dừng lại nếu như Thanh Ngọc không đánh bạo cắt ngang:

“Nói đủ chưa?”

Lê Khải Triều cụt hứng thu con dao về. Thanh Ngọc đang giằng co với hắn nên đột ngột mất đà, kết quả là vồ bổ nhào về phía trước. Lê Khải Triều nhìn thấy thế thì cười rất hả hê, nhưng hắn vẫn rất lịch thiệp chìa tay ra để kéo Thanh Ngọc đứng dậy.

Góc khuất phía sau một hòn núi giả, có một cung nữ và một thị vệ đang đứng nói chuyện với nhau như tri kỉ.

“Lần sau gặp nhau thì đừng đánh nhau nữa được không? Con gái con đứa gì mà động chút là dùng vũ lực, trông chẳng dễ ưa chút nào!”

“Vậy thì anh cũng bớt mồm đi! Đàn ông con trai gì mà nhiều chuyện hơn cả con gái…”

“Nói nhiều thì đã sao? Người có gì nói nấy mới là người tốt. Chỉ sợ những kẻ chẳng bao giờ nói ra suy tính trong lòng.”

“Được rồi, coi như tôi thua anh. Giờ thì nói đi, anh vào cung để làm gì?”

“Ta nhớ cô quá nên vào thăm cô.”

“Có tin tôi giết anh luôn không?”

Lê Khải Triều cười không nổi mà khóc cũng không xong. Thái Thanh Ngọc đúng là kẻ không biết đùa.

“Thực ra thì…” Lê Khải Triều bất đắc dĩ nghiêm túc. “Ta được bệ hạ gọi vào cung. Ngài ấy có chuyện cần ta giúp đỡ. Chứ không thì cô nghĩ làm sao mà ta vào được trong cung?” 

Thanh Ngọc ậm ờ tỏ ý không để tâm lắm, nhưng kì thực trong lòng nàng ta đang không ngừng đặt ra những câu hỏi. Lê Tư Thành có chuyện gì mà cần đến Lê Khải Triều giúp sức? Liệu những lời nói ra từ một kẻ như Lê Khải Triều có đáng tin hay không? Nếu hắn đường hoàng vào cung thì tại sao phải cải trang thành một thị vệ?

Vì không tiện hỏi sâu thêm và cũng không muốn tiếp tục dây dưa với Lê Khải Triều nên Thanh Ngọc kiếm cớ để rời đi. Lê Khải Triều không giữ người lại. Nhưng khi Thanh Ngọc vừa đi được vài bước, hắn liền gọi với theo.

“Còn chuyện gì nữa?” Thanh Ngọc khó chịu đáp khẽ. Giữa hoàng cung mà tên họ Lê này cứ tự nhiên như ở nhà hắn vậy.

Lê Khải Triều bỗng nhiên cảm thấy suy nghĩ ấy thật quái đản. Hắn định thôi không nói nữa, nhưng lần này, cái tật nhanh mồm nhanh miệng đã chính thức bán đứng hắn.

“Khi nào chủ nhân của cô chết rồi thì xin bệ hạ cho xuất cung nhé. Đợi lâu một chút cũng không sao. Có ta luôn ở bên ngoài chờ cô.”

Thề có trời phật ở trên cao, Thanh Ngọc đang phải đấu tranh dữ dội giữa sự xúc động và khao khát quay lại đấm cho Lê Khải Triều một trận.

Trên bàn có một ván cờ đang chơi dở. Người thanh niên trong căn phòng nọ vừa gõ nhịp lên bàn vừa chăm chú ngắm nghía một chiếc vòng ngọc lục bảo.  Chiếc vòng này không thuộc về Quận Ai Thế Tử. Có được nó một cách tình cờ, nhưng hắn không đem trả lại mà đã âm thầm giữ nó bên mình suốt ba năm nay, bởi hắn cảm nhận được sự tương đồng giữa viên ngọc lục bảo này và viên ngọc đính trên thanh bảo kiếm của Nguyễn Anh Vũ. Sở hữu một thứ thuộc về gia tộc đã diệt vong đó luôn là niềm vui nho nhỏ mà hắn không tài nào lí giải nổi.

Mười hai nhịp gõ nữa lại qua đi. Một bóng dáng nhẹ nhàng lách qua khe cửa. Cuối cùng thì kẻ mà Quận Ai Thế Tử mong chờ cũng đã đến.

Cung nữ mới tới ngờ ngợ nhìn chiếc vòng tinh xảo trên tay chủ nhân rồi lại nhìn chiếc tráp nhỏ nơi góc bàn. Trong trí nhớ của nàng ta, Quận Ai Thế Tử chưa bao giờ hứng thú với mấy thứ trang sức của đàn bà con gái. Nhưng khi gặp phải ánh mắt thiếu kiên nhẫn của Quận Ai Thế Tử, nàng ta nhanh chóng nuốt lại sự tò mò không phải lối kia và bẩm báo vào chuyện chính:

“Bẩm Thế Tử, Nguyễn sung nghi vẫn chưa có hành động gì khác thường. Nhưng mấy ngày nay Lê Tư Thành đều cho thị vệ thân tín bí mật xuất cung. Có lẽ hắn muốn tìm danh y bốn phương để đối phó với độc “nguyên khấu”.”

Một quân tốt bị ai đó gảy khỏi bàn cờ. Người thanh niên trầm ngâm nhìn thế cục vừa bị xáo trộn, trong mắt lóe lên sự tức giận mơ hồ. Đáng lẽ hắn có thể âm thầm đưa Lê Tư Thành đến chỗ chết nếu như không bị Hạ Diệp Dương chen chân gây họa.

Máu không hòa…

Loại độc mà Quận Ai Thế Tử dành cho Lê Tư Thành chỉ có thể hạ qua máu, từ đó nó cũng gây ra một số biến đổi nhất định trong cơ thể nạn nhân mà điển hình là khiến máu bị biến chất. Quận Ai Thế Tử không sợ việc đầu độc “nguyên khấu” bị bại lộ sẽ khiến Tư Thành xoay chuyển được tình thế. Danh y bốn phương? Dù là Tuệ Tĩnh thiền sư có sống lại thì cũng không thể cứu được Tư Thành! Bởi vì không giống như kỳ độc thực chất là kế hỏa mù, “nguyên khấu” đích xác là chất kịch độc không có thuốc giải, vô phương cứu chữa. Điều mà Quận Ai Thế Tử e ngại là từ đây đối phương sẽ không tiếp tục nhẫn nại với Lưu Tích Nguyên nữa. Mà thứ hắn thiếu nhất lúc này lại chính là thời gian.

 Quận Ai Thế Tử cất vòng ngọc vào trong tráp rồi cẩn thận dò hỏi cung nữ kia:

“Lúc ngươi đến đây có ai đi theo không?”

Người kia hơi ngẩn ra rồi lắc đầu:

"Không đâu ạ. Thuộc hạ tranh thủ lẻn ra đây nên chắc chắn không ai có thể…"

"Vậy thì tốt!"

Không rõ Quận Ai Thế Tử nói ai. Nhưng âm điệu thản nhiên của hắn lại khiến kẻ đang thất thần bên cạnh giật nảy mình.

Người kia kiên nhẫn chờ đợi thêm một lúc nữa, đến khi thấy Quận Ai Thế Tử có vẻ đã quên đi sự hiện diện của mình thì đành miễn cưỡng cúi đầu cáo biệt. Lần này thì Quận Ai Thế Tử không giữ khách. Hắn đang chờ đợi một điều quan trọng hơn so với tin tức nội bộ từ hậu cung.

Căn phòng rơi vào sự tĩnh lặng tột cùng.

Lại thêm một quân cờ nữa bị gạt khỏi bàn cờ. Trước mặt chỉ còn lại lác đác vài quân đen trắng. Thế cục vừa hỗn loạn mà trong chớp mắt đã ổn định trở lại. Và quân cờ vừa bị Quận Ai Thế Tử gạt đi không phải là quân tốt…

Nguyễn Anh Vũ rời khỏi hoàng cung nhưng không trở về Viên Diệp cư mà âm thầm ở lại căn nhà tranh của lão Bản. Từ Trọng Sinh vẫn ở trong căn nhà nhỏ nằm gần viện thái y mà Tư Thành ban cho y hồi đầu năm ngoái. Kỳ độc còn có cách hóa giải, y không tin mình phải bất lực trước bóng ma chưa rõ hình rõ dạng này. Còn Lê Khải Triều, sau khi rời khỏi hoàng cung, hắn không vội rời khỏi kinh thành mà cố nán lại và chờ đợi một điều gì đó

Giông tố ngày đầu năm như lời cảnh báo về những chuyện chẳng lành sắp xảy ra, mà khởi đầu trong chuỗi biến cố ấy chính là việc Từ thái y bị ám sát!

* Sách sử đời sau có chép rằng: “Nay Gia vương thiên tư sáng suốt, hùng tài đại lược, hơn hẳn mọi người, các vương không ai so được, lòng người đều theo, đã biết ý trời đã quyết.” (Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 2, trang 430).

< Chương trước Chương sau >
Ánh Tuyết Triều Dương

Tạo ngày 22/03/2017, Cập nhật ngày 04/12/2017

7

awesome

0

nice

10

loved!

0

lol!

0

funny

3

fail!

0

omg

0

ew

Chấm điểm bài viết

1

2

3

4

5

Kết nối với vinote